Trong thiên tình sử bất hủ, liệu Mã Văn Tài có xấu xa như vậy không? (P.1)

Trong các bộ phim về thiên tình sử Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài, cuộc tình của đôi trai tài gái sắc bị Mã Văn Tài dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, người xưa rất xem trọng đạo đức, Mã Văn Tài thuộc dòng dõi có học, am hiểu lễ nghĩa, cũng là bậc văn tài có tiếng thì liệu có thể xấu xa, thủ đoạn đến như vậy không?

Chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài

Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về mối tình uyên ương như mộng này …

Vào thời Đông Tấn, ở vùng Thượng Ngu, tỉnh Triết Giang Trung Quốc, có một viên ngoại họ Chúc tuổi đã năm mươi, dưới gối không con trai, chỉ có một cô con gái độc nhất, tên Anh Đài, tên mụ là Cửu Muội, nguyên là trong gia tộc xếp hàng thứ chín mà đặt tên này…

Nói về Anh Đài này, tuy thân là nữ nhi, nhưng lại thông tuệ khác thường, từ nhỏ đã thích đọc kinh thư, dưới sự chỉ dạy của phụ thân, đọc thuộc kinh thư, nhất là trong lòng rất tôn sùng đối với Ban Chiêu, Ban Tiệp dư, cũng như các tài nữ trong lịch sử.

Khi đến tuổi  mười lăm, mười sáu, kinh sách trong nhà cũng không đủ cho nàng học nữa, người cha già cũng thấy không còn gì để dạy cho nàng nữa, thế là nàng liền nảy sinh tâm nguyện muốn được đi học ở bên ngoài. Nhưng nữ tử thời bấy giờ đa số là phải ở trong khuê phòng, không được tùy ý ra khỏi nhà, sao lại có thể đi ra bên ngoài học cùng một trường với đám thư sinh mày râu được chứ? Vậy nên, không ngoài dự liệu, khi nàng vừa nói với cha, Chúc viên ngoại lập tức xua tay lắc đầu liên tục: “Không được! Không được!”.

Anh Đài từ nhỏ đã được coi như viên minh châu trên tay của cha mẹ, trước giờ xin gì được nấy, nhưng lần này, mặc cho nàng van xin như thế nào, Chúc viên ngoại chính là không đồng ý: “Điều này làm sao được chứ? Ở đâu có chuyện một đứa con gái lại xuất đầu lộ diện đến học cùng trường với đám con trai chứ? Không được là không được!”.

Anh Đài nói bản thân có thể nữ cải nam trang, dẫn theo Ngân Tâm a hoàn luôn theo bên mình, trong trường cũng chỉ là ban ngày lên lớp, ban đêm bản thân và Ngân Tâm ở riêng, chuyên tâm đọc sách, tuyệt đối sẽ không xảy ra chuyện gì cả. Lão viên ngoại nghe xong vẫn là không chịu, nói: “Nực cười, ở đâu có chuyện nữ tử cải trang thành đàn ông chứ? Con muốn bắt chước Hoa Mộc Lan hay sao? Đó cũng chỉ là nghe trong kịch thôi, có ai đã thật sự thấy Hoa Mộc Lan chứ?”.

Anh Đài thấy không thuyết phục được cha, trở về thư phòng thẫn thờ buồn bã. Còn về Ngân Tâm cô a hoàn này, từ nhỏ đã lớn lên cùng với tiểu thư Anh Đài, hai người cứ như hình với bóng, nàng rất hiểu rõ tâm sự của Anh Đài, huống hồ bản thân từ nhỏ đã theo tiểu thư đọc sách, cũng đã học được không ít kinh điển, trong lòng cũng mong được ra ngoài đi học cùng với tiểu thư.

Thế là, cô liền nảy sinh một chủ ý, nói: “Tiểu thư, em thấy điều mà lão gia không yên tâm, chính là sợ chúng ta chẳng may bị người ta nhận ra thì sẽ không hay lắm, chi bằng tiểu thư hãy như vậy như vậy………”. Đang nói, hai người đều cười phá lên, cảm thấy kế này rất hay, nhất định sẽ có hiệu quả!

Anh Đài giả trai khiến Chúc viên ngoại không thể nhận ra.

Một ngày kia, Chúc viên ngoại đang ngồi nhàn nhã trong phòng khách, bỗng nghe thấy tiếng mõ từng hồi ngoài sân, xen lẫn tiếng người nghe không rõ lắm. Chỉ thấy a hoàn Ngân Tâm chạy đến, cười thích thú, nói không ngớt lời: “Lão gia! Người mau xem đi, có một vị tiên sinh đoán mệnh đến làng của chúng ta, anh ta tự nói là xem rất chuẩn, không chuẩn không lấy tiền. Vị tiên sinh này trông vẫn còn rất trẻ vậy mà khẩu khí lại lớn đến thế!”.

Chúc viên ngoại nghe xong, trong lòng khẽ động, đang nghĩ: “Ta cũng đang không có việc gì, trong nhà chỉ có một cô con gái này, là viên ngọc quý trên tay của hai vợ chồng ta, không biết tương lai của nó sẽ như thế nào? Nghe nói thần kì đến như vậy, sao lại không hỏi hắn ta thử xem sao?”, ông còn đang nghĩ ngợi, Ngân Tâm ở bên cạnh cũng ra sức thúc giục: “Lão gia, sao lại không cho mời vị tiên sinh này vào để hỏi thử anh ta xem sao? Xem thử tương lai của tiểu thư nhà mình sẽ như thế nào?”.

Chúc viên ngoại này liền gật đầu, Ngân Tâm đó chỉ mong có được một lời này, hớt hơ hớt hải chạy ra. Một lát sau, chỉ thấy Ngân Tâm đi vào từ cửa nhà chính, theo sau là một chàng thanh niên mặc trường bào màu xanh lam. Trong lòng Chúc viên ngoại biết rõ đây chính là vị thầy tướng số kia. Mọi người hành lễ chào hỏi xưng tên với nhau, rồi chia vai chủ khách mà ngồi xuống.

Vừa ngồi xuống trò chuyện một hồi, Chúc viên ngoại liền vào thẳng vấn đề chính, nói muốn xem mệnh cho con gái. Chỉ thấy vị tiên sinh này cũng không nói nhiều, hỏi thẳng sinh thần bát tự của tiểu thư, ở đó bấm ngón tay tính toán một cái, sau đó lại thấy anh ta từ trong cái túi lấy ra một ống tre, rồi bắt đầu lắc quẻ.

Chúc viên ngoại này một lòng nghĩ đến chỗ hay chỗ dở của con gái, chỉ ngồi ở đó nhìn mà không lên tiếng. Chính ngay lúc này, chỉ thấy Ngân Tâm ở đó không nhịn được cười nữa, từ sớm đã cười đến khom cả người xuống. Chúc viên ngoại chính lúc đang quát mắng cô a đầu không biết phải trái, sao lại có thể thất lễ trước mặt tiên sinh như vậy? Rồi lại thấy vị tiên sinh đoán mệnh này cũng nhịn cười không được nữa, một tay đặt thùng quẻ xuống, một tay cởi bỏ cái mũ trên đầu, để lộ ra mái tóc đen nhánh óng mượt, cũng cười đến run cả người lên.

Chúc viên ngoại lúc này mới nhìn ra, đây đâu phải tiên sinh đoán mệnh gì chứ, rõ ràng là Anh Đài con gái bảo bối của mình đây mà! Thì ra hai chủ tớ này đã thông đồng với nhau từ trước, nghĩ ra kế sách này để thuyết phục lão viên ngoại đồng ý cho Anh Đài đi học!

Không chịu được cảnh con gái nài nỉ van xin, lại thấy nàng nữ cải nam trang xác thực cũng không có chỗ sơ hở nào, vả lại còn có Ngân Tâm đi theo, ở trường cũng chỉ ban ngày đến lớp, buổi tối ai về phòng nấy, nghĩ cũng không có chướng ngại gì, cuối cùng đã nhận lời nàng, đành theo ý nàng vậy. Nhưng cha con ước định: kỳ hạn ba năm; nếu như trong thời gian đó có chuyện, nhận được thư nhà của cha thì cần phải lập tức trở về.

Lúc đó chính là tháng ba mùa xuân, hai chủ tớ Anh Đài, Ngân Tâm này chính như con chim trong lồng lâu ngày, nay được bay ra ngoài, trong lòng tràn ngập niềm vui, thẳng đến trường học ở Hàng Châu.

Trên đường hai người đã thưởng ngoạn không biết bao nhiêu cảnh đẹp của nhân gian, hoa đào nở rộ, cành liễu đung đưa, cây xanh thành hàng.

Ngân Tâm tính tình trẻ con, ngắt một nhánh hoa đào, nâng niu trên tay, rồi quyến luyến không rời.

Anh Đài không nhịn được cười, giận trách nói: “Ngân Tâm, em cũng không nghĩ thử xem, bông hoa này tuy đẹp, mỗi năm cũng chỉ khai nở vào mỗi một dịp này, một đời của nó thật là ngắn ngủi biết bao, em lại ngắt nó xuống chỉ lo cho niềm vui của bản thân mình, há không phải là càng rút ngắn thọ mệnh của chúng hay sao? Thật là đáng thương vậy!”.

Ngân Tâm nghe xong, chợt cảm thấy không ổn, cái miệng nhỏ nhắn cắn chặt, nước mắt sắp rơi xuống. Anh Đài thấy vậy, vội vàng an ủi nói: “Đừng lo lắng, em cũng không phải là cố ý mà. Trong sách không phải có chép câu chuyện người xưa chôn hoa hay sao? Chúng ta hãy chôn nó xuống, cũng coi như hết lòng hết ý. Há không phải rất tốt hay sao?”. Ngân Tâm nghe xong lập tức ngừng khóc mỉm cười.

Sơn Bá, Anh Đài gặp nhau càng nói càng cao hứng.

Chủ tớ hai người đang bận đào một nắm đất làm mộ để chôn cất nhánh hoa đó. Chính ngay tại lúc này đây, từ bên kia lại có hai người một chủ một tớ đi đến. Mọi người đoán thử xem là ai nào?

Họ cũng là chủ tớ hai người đang muốn đến trường Hàng Châu…Công tử Lương Sơn Bá và người theo hầu tên Tứ Cửu, vừa khéo lại đi ngang qua nơi này, nhìn thấy hai người đang bận rộn ở đây, không khỏi hiếu kỳ, nhìn thử thì thấy cũng là người có học.

Công tử Lương Sơn Bá đó liền bước lại gần vái chào một cái, hỏi thăm là chuyện gì. Anh Đài vội vàng trả lễ, sau một hồi trò chuyện biết được duyên cớ, Sơn Bá không khỏi tấm tắc, nói đấy mới là đạo lý của người đọc sách, thương hoa tiếc xuân, tiếc người tiếc vật, không trái với lẽ trời.

Nói xong liền cùng Tứ Cửu cũng lại phụ một tay. Mấy người trẻ tuổi, vừa trò chuyện vừa đắp thành một mộ hoa nhỏ. Sau đó mọi người người nào người nấy đều mồ hôi nhễ nhại, nhìn kỹ lại nhau.

Anh Đài thấy Sơn Bá ấy thật là một chàng thư sinh hào hoa anh tuấn, tướng mạo đường đường, thanh âm vang vọng, ăn nói dứt khoát, thật là khiến người ta ngưỡng mộ trong lòng; Sơn Bá nhìn Anh Đài thấy mi thanh mục tú, thông minh lanh lợi, nói chuyện nhẹ nhàng từ tốn, câu nào cũng hợp ý người, thật khiến người ta lấy làm thích thú.

Hai người càng nói càng cao hứng, càng nói càng hợp nhau, thật đúng là gặp được bạn tri âm, chỉ tiếc là biết nhau quá muộn. Nói ra mới biết là đi cùng một đường, đến cùng một trường, lập tức liền đắp một nắm đất làm nhang, quỳ xuống bái lạy trời đất, kết bái huynh đệ, nguyện làm anh em khác họ, thề cùng sống chết. Sơn Bá lớn hơn Anh Đài một tuổi vậy nên làm huynh trưởng. Từ đó, hai người liền xưng hô huynh đệ.

Sơn Bá này nguyên là người làng Lương, Cối Kê, từ nhỏ đã mất cha, do một tay mẹ nuôi lớn, hai mẹ con nương tựa vào nhau, dựa vào mười mấy mẫu đất cằn cỗi trong nhà, thuê người ở đợ mà miễn cưỡng sống qua ngày.

Trên đường mấy người ngày đi đêm nghỉ, chuyện trò vui vẻ, rất vui thích. Anh Đài cảm thấy Lương huynh này thật là thật thà nhân hậu, Sơn Bá lại thấy người bạn học này thật là thông minh lanh lợi, rất hiểu ý người khác, tình cảm hai người ngày càng sâu đậm.

Tuy nhiên, chỉ có điều, buổi tối ở trọ, Anh Đài mượn cớ nói bản thân mình từ nhỏ có một cái tật ngủ một mình, không thể ngủ chung giường với người khác được, nếu không cả đêm sẽ không ngủ được, Sơn Bá cũng không nghi ngờ gì.

Sau khi đến trường học, hai người cùng ra mắt thầy giáo, bắt đầu việc học. Hai người vẫn là suốt ngày như hình với bóng, ngồi cùng bàn học, mỗi ngày đàm luận cầm kỳ thi họa, cùng nhau giải tỏa nghi vấn.

Một ngày kia, hai người ngồi kề vai nhau, trong lúc trò chuyện, Sơn Bá bỗng nhìn thấy hai vành tai của Anh Đài có hai cái lỗ, không khỏi kinh ngạc, nói: “Hiền đệ, tai của đệ sao lại có hai cái lỗ đeo bông tai giống như của nữ nhân vậy?”.

Anh Đài mặt mày thanh tú

Anh Đài thấy hỏi, nhất thời nghẹn lời, trong lúc nhanh trí đã nghĩ đến hội chùa hàng năm ở quê nhà, trả lời rằng: “Quê làng tiểu đệ, mỗi năm đến ngày đản sinh của Quán Thế Âm Bồ Tát đều sẽ tổ chức hội mừng, mở hội rất lớn, trong làng cần chọn ra một người trẻ tuổi hóa thân thành hình dạng của Bồ Tát đi dạo quanh phố, thọ nhận cúng dường. Bởi tiểu đệ mặt mày thanh tú nên được người trong làng chọn trúng, vậy nên đã khoan hai cái lỗ tai này”.  

Sơn Bá nghe xong, gật đầu liên hồi, nói: “Ừm, hiền đệ tuấn tú như vậy, điều này cũng không lạ gì. Có vinh hạnh hóa thân thành Bồ Tát, Tiên duyên của hiền đệ cũng không phải mỏng”, liền không nghi ngờ gì nữa.

Nháy mắt đã 3 năm trôi qua, kỳ hạn hẹn ước với cha đã đến. Anh Đài cùng Sơn Bá mỗi ngày ngâm thơ làm văn, đàm luận cổ kim, đối xử chân thành, ngày càng tâm đầu ý hợp. Anh Đài lâu dần không khỏi động tâm, đã nảy sinh tình cảm với Sơn Bá, thầm nghĩ đời này có duyên, nếu như có thể cùng Lương huynh nên duyên cả đời, vậy đã mãn nguyện rồi, nhưng khổ nỗi bản thân là nữ cải nam trang, không có lý do khó mà mở miệng. Mà Sơn Bá ấy lại thật thà chất phác, một chút cũng không phát giác. Chính ngay lúc này, Chúc viên ngoại sai người mang thư nhà đến nói với Anh Đài: Trong nhà có chuyện, sức khỏe cha già bất an, mong con gái mau chóng quay về!

Anh Đài nhớ cha da diết, lập tức thu xếp hành lý, tạm biệt thầy cô bè bạn, chuẩn bị lên đường. Buổi tối ngày trước khi lên đường, Anh Đài đã đặc biệt một mình đến bái kiến sư mẫu, nói với sư mẫu sự thật về thân phận của mình. Thổ lộ tình cảm của mình đối với Sơn Bá, nhờ sư mẫu đợi sau khi bản thân mình đi rồi, nói lại với Sơn Bá, xin chàng hãy mau chóng tìm người mai mối đến Chúc gia trang cầu thân. Còn lấy ra một đôi hồ điệp bằng ngọc vốn là vật gia truyền trong nhà để lại cho sư mẫu một cái, bản thân mình giữ lại một cái làm tín vật, nói rằng: “Đôi bướm ngọc này vốn là di vật mà mẹ để lại, nói là để sau này làm của hồi môn cho con gái, bản thân con đã đeo trên người từ nhỏ, trước nay không dời khỏi người. Nhờ sư mẫu giao lại cho Lương huynh: Thấy vật nhớ người, thấy miếng ngọc như thấy Anh Đài, đợi đến khi hai miếng ngọc trùng phùng, hồ điệp thành đôi, thì cũng chính là lúc vợ chồng cùng chắp cánh bay”. Sư mẫu đó gật đầu đồng ý.

Ngày hôm sau Anh Đài lên đường trở về nhà. Sơn Bá lưu luyến chia tay, khăng khăng muốn tiễn nàng một đoạn. Trong lòng Anh Đài có chuyện muốn nói, nhưng khi mở miệng rồi lại thôi, Sơn Bá trong lòng buồn bã không còn nói nhiều như trước nữa.

Anh Đài chỉ muốn làm sao cho chàng hiểu rõ thân phận và tình cảm của mình. Vừa khéo lại đi qua một con suối nhỏ, trong suối có một đôi uyên ương đang nghịch nước, Anh Đài nhặt một cành cây bên đường ném về phía uyên ương kia, đôi uyên ương này nhất thời hoảng loạn mỗi con bay mỗi ngả.

Anh Đài có chuyện muốn nói, nhưng khi mở miệng rồi lại thôi, Sơn Bá trong lòng buồn bã không còn nói nhiều như trước nữa.

Anh Đài nói: “Lương huynh này, lần này chúng ta chia tay không biết đến bao giờ mới được gặp lại. Giống như đôi uyên ương này bị dọa sợ mỗi con mỗi nơi vậy”.

Sơn Bá buồn bã nói: “Hiền đệ nói vậy thật không thỏa đáng chút nào, chúng ta là huynh đệ chia lìa, sao lại có thể ví như vợ chồng được?”.

Trong lòng Anh Đài không khỏi than khổ. Suốt dọc đường đi, nàng đã ví von đủ điều, tiếc rằng Sơn Bá ngây thơ thật thà, khiến cho Anh Đài luống cuống không biết làm sao mới phải.

Tiễn người nghìn dặm cũng đến lúc chia tay, Sơn Bá đó là chính nhân quân tử, một chút tâm địa gian xảo, lòng dạ đen tối cũng không có. Trước lúc chia tay, Anh Đài đinh ninh dặn dò hết lần này đến lần khác: “Lương huynh à, mong huynh sớm ngày đến viếng thăm Chúc gia trang nhà đệ, có thế huynh đệ chúng ta mới có thể gặp lại nhau nữa”.

Sơn Bá nhận lời, hai người nước mắt chia tay.

(Còn nữa)

Tiểu Thiện dịch từ soundofhope.org