• TINHHOANET

Con đường chứng đắc Phật quả—Câu chuyện về Phật Thích Ca Mâu Ni

Vị hoàng tử, người sau này trở thành người truyền bá Đạo Phật, đã kinh qua không ít khó khăn trên hành trình tìm kiếm sự giác ngộ. Qua câu chuyện của Ngài, chúng ta được chứng kiến sự quả cảm của một trái tim chất phác mong tìm được chân lý để đột phá khỏi cảnh giới phàm tục của cuộc sống nơi nhân thế.

Buddha Sakyamuni's statue near Belum Caves located in Andhra Pradesh, India. The Buddha was a prince by birth but decided to abandon his royal title and pursue spiritual growth after witnessing sufferings of human life. (Purshi/ Wikimedia Commons)
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ở gần quần thể hang động Belum ở Andhra Pradesh, Ấn Độ. Đức Phật Thích Ca được sinh ra là một hoàng tử nhưng đã quyết định từ bỏ tước vị hoàng gia để theo đuổi sự thăng hoa về tinh thần sau khi tận mắt chứng kiến khổ ải của kiếp người. (Purshi/ Wikimedia Commons)

Sự đản sinh của vị hoàng tử “nhà hiền triết của dòng họ Thích Ca”

Vào thế kỷ thứ 6 TCN, tại vương quốc Ca Tỳ La Vệ (Kapilavattsu) vốn là nước Nepal cổ đại, được trị vì bởi tầng lớp chiến binh Thích Ca (Shakyas – nghĩa là “sư tử”), nhà vua là Tịnh Phạn (Suddodana) và hoàng hậu là Ma Da (Mahamaya). Đức vua cùng hoàng hậu đang chờ đợi đứa con đầu lòng. Theo truyền thuyết kể lại, trước khi hạ sinh hoàng tử, hoàng hậu đã có một giấc mơ kỳ lạ.

Bà mơ thấy một luồng ánh sáng trắng mỹ diệu chiếu rọi vào bà, và từ trong luồng sáng xuất hiện một con voi trắng vô cùng thánh khiết với sáu chiếc ngà. Nó bước đến gần rồi hòa tan vào cơ thể bà. Sau khi tỉnh lại, bà thuật lại giấc mơ với nhà vua. Sáng hôm đó, nhà vua cho triệu tập các nhà thông thái để hỏi ý kiến. Họ phán rằng đó là một điềm lành ám chỉ rằng hoàng hậu sẽ sinh ra một vĩ nhân.

Nhà vua đã rất chấn động với tin này. Theo tục lệ, hoàng hậu Ma Da sẽ đi về nhà mẹ đẻ để sinh nở. Đó là vào một ngày trăng tròn của tháng Vesak (sau gọi là ngày Phật Đản) theo lịch Ấn Độ, tức là vào tháng năm Dương lịch. Khi bà đến vườn Lâm Tỳ Ni và nhìn thấy những lùm cây rất đẹp, bà truyền lệnh dừng chân để nghỉ ngơi. Khi bà đi ngang qua một cây Sa la lớn, thì bất chợt trở dạ và hạ sinh một bé trai. Thế là hoàng tử vương quốc Ca Tỳ La Vệ đã hạ sinh đến cõi trần.

Truyền thuyết kể lại rằng việc sinh nở của bà rất dễ dàng và một cơn mưa nhẹ đã gội rửa cho cả người mẹ và đứa trẻ. Cùng ngày đó, bảy sinh mệnh khác cũng được xuất sinh, lần lượt là cây bồ đề, công chúa Da Du Đà La (Yashodhara), con ngựa Kiền Trắc (Kantaka), người đánh xe ngựa Sa Nặc (Channa), con voi Kaludayi (người bạn thời thơ ấu của hoàng tử), và bảy kho báu vô chủ.

Đứa trẻ được đưa trở về kinh thành ngay đêm hôm đó. Năm ngày sau, đứa trẻ được đặt tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha), nghĩa là “người mà sẽ đạt được mục đích của mình.” Rất nhiều những nhà thông thái đã đến để gặp mặt và cầu chúc cho vị hoàng tử mới sinh, một trong số đó là một lão niên mộ đạo tên là A Tư Đà, vốn là thầy dạy học cũ của nhà vua và là một người tu hành khổ hạnh đã đạt được nhiều thành tựu.

Nhà vua, cảm thấy rất vinh dự bởi chuyến thăm của đạo sỹ A Tư Đà (Asita), nên cho người mang đứa trẻ đến bên vị đạo sỹ để đứa bé tỏ lòng tôn kính với ông. Ngay lập tức, A Tư Đà đứng phắt dậy và nhận ra ngay những đường nét trên cơ thể hoàng tử báo hiệu một khuynh hướng tâm linh và tôn giáo. Với năng lực siêu thường, ông nhìn thấy sự vĩ đại trong tương lai của vị hoàng tử mới sinh và chào đón cậu với những cái siết tay thật chặt.

Lời tiên đoán về cuộc đời tu hành của hoàng tử

Bảy ngày sau, hoàng hậu Ma Da qua đời, để lại vị trí của bà cho người em gái Kiều Đàm Di (Mahaprajapati), và bà đã nuôi nấng hoàng tử với sự yêu thương, chăm sóc hết mực. Khi Tất Đạt Đa tròn 12 tuổi, nhà vua đã cho gọi các nhà tiên tri đến để dự đoán tương lai của hoàng tử. Họ phán rằng Tất Đạt Đa sẽ đi theo lối tu hành khổ hạnh nếu cậu nhìn thấy các dấu hiệu của lão, bệnh, tử hoặc gặp một nhà tu hành khổ hạnh.

Vua Tịnh Phạn muốn con trai mình trở thành một vị minh quân, nên ông cho canh gác cung điện nghiêm ngặt và cấm sử dụng từ “chết” hoặc “khổ” trong cung. Ông bao bọc Tất Đạt Đa khỏi bất cứ thứ gì có thể truyền cảm hứng cho cậu tiến bước vào con đường tu hành. Vì vậy hoàng tử được giữ bên trong cung điện hoàng gia để hưởng thụ cuộc sống nhung lụa. Hoàng tử lớn lên và trở thành một người đàn ông mạnh mẽ. Là một hoàng tử của đẳng cấp chiến binh, cậu được rèn luyện các kỹ năng chiến đấu. Cậu chiếm được tình cảm của nàng công chúa xinh đẹp Da Du Đà La của vương quốc láng giềng khi đã đánh bại tất cả đối thủ trong các cuộc thi thể thao. Họ thành hôn vào lúc 16 tuổi.

Bốn cuộc chạm trán lịch sử với hiện thực cuộc sống

Tất Đạt Đa tiếp tục hưởng thụ một cuộc sống nhung lụa, nhưng khi thời gian trôi đi, cậu dần trở nên hiếu kỳ và muốn khám phá thế giới bên ngoài phạm vi của bức tường bao quanh cung điện. Vì vậy, cậu đã quyết định đi thăm thú thị trấn lân cận, các thần dân của cậu, và đất đai của vương quốc.

Nhà vua đã cẩn thận bố trí chuyến đi của cậu, trang hoàng mọi thứ và biến nó thành đẹp đẽ. Những cảnh tượng xấu hoặc buồn khổ sẽ được loại bỏ để ngăn không cho cậu nhìn thấy bốn dấu hiệu đã được chỉ ra bởi những nhà thông thái. Nhưng tất cả sự đề phòng của nhà vua đã trở nên vô ích khi hoàng tử đi du ngoạn với người đánh xe ngựa Sa Nặc.

Ở thị trấn, Tất Đạt Đa vô tình nhìn thấy một ông lão, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn. Tất Đạt Đa ngạc nhiên và hỏi Sa Nặc về người đàn ông đó. Rồi cậu lại nhìn thấy một người đàn ông bị bệnh và đang ho, nó khiến cậu cảm thấy khó hiểu. Cuối cùng, là một đám tang ở bờ sông và một nhà tu hành khổ hạnh—người đã từ bỏ tất cả các niềm vui thế tục để đạt được sự an lạc trong nội tâm và hạnh phúc vĩnh hằng. Sự an lạc trên gương mặt của vị sư đã gây ấn tượng mạnh cho Tất Đạt Đa. Cậu hỏi Sa Nặc ý nghĩa của tất cả những thứ này. Người đánh xe ngựa kể cho hoàng tử nghe về hiện thực của cuộc sống mà đáng ra cậu nên biết từ lâu.

Trở lại cung điện, Tất Đạt Đa đã xin phép vua cha cho cậu rời cung điện và trở thành một nhà sư khất thực để tìm kiếm chân lý cuộc đời, vì cậu đã hiểu được rằng hết thảy mọi thứ trên đời là phù du và huyễn hoặc. Cảm thấy rất thất vọng, cha cậu đã cho tăng cường phòng ngự xung quanh cung điện cũng như tăng các thú vui tiêu khiển để níu chân cậu. Vào thời điểm này, công chúa Da Du Đà La đã sinh hạ người con đầu tiên mà cậu đặt tên là La Hầu La (Rahula), nghĩa là “xiềng xích” hay “sự ràng buộc.”

Tất Đạt Đa không hài lòng với cuộc sống và quyết định bỏ trốn trên con ngựa Kiền Trắc với sự giúp đỡ của người thầy thân tín, Sắc Na. Cậu thức dậy trong đêm, nhìn vợ con lần cuối, rồi lên ngựa, và cưỡi đi. Ở cổng thành, cậu cắt đi mái tóc dày và giao lại chiếc áo choàng hoàng tử cho Sắc Na.

Hành trình tìm kiếm chân lý cuộc đời của Tất Đạt Đa

Sau khi rời khỏi cung điện, Tất Đạt Đa đi đến Vương Xá Thành, kinh đô của nước Ma Kiệt Đà thời Ấn Độ cổ, nơi cậu gặp một số vị sư đang thiền định trong các hang động trên núi. Cậu trở thành đồ đệ của nhà tu hành A La La Ca Lam (Alara Klama), người đã dạy cậu cách tu luyện. Sau một thời gian tu luyện, hoàng tử không thấy tiến bộ hơn nữa nên theo học một nhà tu ẩn dật tên là Ưu Đà La La Ma Tử (Uddaka Ramaputta).

Tuy nhiên, sau một thời gian, cậu lại nhận ra rằng cậu không thể tiến bộ thêm nữa. Do đó, cậu tham gia cùng với năm nhà tu hành ở trong rừng Benares để tu luyện bằng cách hành xác, ăn cực ít và trải nghiệm sự khắc khổ. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu gọi hoàng tử Tất Đạt Đa dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), nghĩa là “nhà hiền triết của dòng họ Thích Ca”. Sau khi tu luyện như vậy được sáu năm, Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra rằng ông chưa đạt được sự giác ngộ nhưng thân thể thường nhân của ông đã trở nên vô cùng suy kiệt.

Vào một ngày khi ông đang thiền định, ông bất chợt nghe thấy cuộc đối thoại giữa hai nhạc công trên một con thuyền. Người nhạc công dày dạn kinh nghiệm nói với người tập việc rằng các sợi dây của đàn nguyệt không nên quá căng hoặc quá chùng. Nếu dây được kéo quá căng, chúng sẽ gãy; và nếu được kéo quá trùng, âm thanh phát ra sẽ không đúng nữa.

Ngay khi nghe được điều này, Thích Ca Mâu Ni chợt giác ngộ ra được nguyên lý trung dung (đi đường giữa) và không đi sang phía cực đoan; sau đó ông rời đi để tản bộ. Trên đường đi, ông gặp một cô thôn nữ tên là Sujata, và cô tỏ ý muốn bố thí bánh gạo cho Thích Ca Mâu Ni; vốn giờ đã quá suy kiệt. Truyền thuyết kể lại rằng thân thể của Thích Ca Mâu Ni đã trở về bình thường ngay sau khi ăn nó.

Giác ngộ

Sau đó ông đã ngồi dưới cội Bồ Đề trong rừng Urvela và nguyện sẽ không ra khỏi trạng thái thiền định nếu không đạt được sự giác ngộ. Ông đã đối mặt với sự can nhiễu từ một con quỷ tên là Mara, nó dùng trăm mưu nghìn kế để quấy nhiễu ông nhưng không thể nào xoay chuyển được ý chí kiên định của Thích Ca Mâu Ni. Khi chứng kiến việc Thích Ca Mâu Ni đột phá khỏi sự kiềm tỏa của ham muốn và ràng buộc, Mara trở nên cực kỳ phẫn nộ và nó gửi hàng tá ma quỷ có vũ khí đến để tấn công Thích Ca Mâu Ni, nhưng Ngài vẫn giữ nguyên trạng thái bất động.

Sau khi bị đánh bại và nhận ra rằng nó sẽ không tài nào can nhiễu được đến định lực phi phàm của Thích Ca Mâu Ni, Mara đã mỉa mai ông và nói rằng mặc dù ông đã chiến thắng, nhưng sẽ không có ai chứng kiến được điều này. Thích Ca Mâu Ni chạm tay xuống mặt đất, ám chỉ rằng đất sẽ là vật chứng kiến. Mặt đất bất giác rung chuyển như để đáp lại rằng nó sẽ chứng kiến cho sự vinh diệu của Thích Ca Mâu Ni. Từ khoảnh khắc đó, Thích Ca Mâu Ni tiếp tục quá trình thiền định của ông và cuối cùng đã đạt được sự giác ngộ, đạt đến cảnh giới của Phật.

Ngay sau khi chứng đắc quả vị Phật, ông bắt đầu sứ mệnh tiền định của mình là cứu độ chúng sinh. Thích Ca Mâu Ni đã giảng bài Pháp đầu tiên cho những người đồng tu trước đây của ông, năm nhà tu hành ở Benares. Dần dần, số lượng các đồ đệ của ông đã tăng lên đến con số 80.000.

Khi vua Tịnh Phạn biết được rằng con trai ông đã trở thành một vị Phật, ông đã cho mời Thích Ca Mâu Ni vào cung và quở trách việc ông đã đi xin ăn trong khi ông giàu đến nỗi có thể nuôi hàng nghìn tín đồ. Thích Ca Mâu Ni giải thích cho cha rằng đó là một yêu cầu của hệ thống tu luyện của ông. Trong thời gian này, người em trai cùng cha khác mẹ A Nan Đà (Ananda) của Thích Ca Mâu Ni, người sẽ được phong làm hoàng thái tử và có đính ước với công chúa Tôn Đà Lị (Sundari), cũng quyết định bước chân vào con đường tu luyện và trở thành đồ đệ của Thích Ca Mâu Ni.

Sau đó, con trai của Thích Ca Mâu Ni là La Hầu La và mẹ cũng đã trở thành đồ đệ của ông. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi thứ đều êm xuôi;  anh em họ của Thích Ca Mâu Ni là Đề Bà Đạt Đa (Devadutta) đã cố gắng sát hại ông rất nhiều lần vì lòng ghen tỵ, nhưng Đức Phật đều tha thứ cho ông với lòng từ bi của mình. Tướng cướp Vô Não (Ương Quật Ma La – Angulimal) cũng đã cố gắng sát hại ông nhưng cuối cùng cũng trở thành đệ tử Phật gia.

Thích Ca Mâu Ni đã đi đến rất nhiều nơi xa xôi để đem đến cho con người sự cứu rỗi. Bên bờ sông Câu Thi Na, Ngài cùng các đệ tử dùng một bữa ăn được dâng lên bởi một người thợ rèn. Sau đó, Ngài cảm thấy không được khỏe. Vào đêm trăng tròn đúng tháng sinh của mình, năm 483 TCN, Thích Ca Mâu Ni đã truyền dạy đệ tử lần cuối trước khi nhập Niết Bàn.

Những lời tiên tri của Phật Thích Ca Mâu Ni về sự đản sinh của một vị Phật tương lai

Trong rất nhiều lời truyền giảng, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni để lại những lời tiên tri về thời mạt kiếp về sự đản sinh của một vị Phật tương lai, 2500 năm sau khi Ngài tạ thế, ứng với thời đại ngày hôm nay của chúng ta…

Kinh Phật ghi lại “Long Hoa tam hội nguyện tương phùng, sau năm mươi ức năm, Phật Di Lặc hạ thế, giảng Pháp tam biến, độ hết tất cả chúng sinh hữu duyên”.

Quyển 8 kinh “Huệ Lâm Âm Nghĩa”, có nhắc tới sự đản sinh của một đức Phật Như Lai hay một đức Chuyển Luân Thánh Vương, và sự đản sinh của Ngài sẽ đi cùng dấu hiệu nơi thế gian là những bông hoa Ưu Đàm Bà La, một loài thiên hoa nhỏ li ti trắng muốt, thân hoa mỏng như sợi tơ, trong suốt, sắc trắng như tuyết, xung quanh tỏa ra vầng sáng nhàn nhạt, có khả năng mọc trên bất kỳ chất liệu nào mà những loài hoa thông thường không thể mọc được như đồng, sắt thép, thủy tinh, keo dán, trái cây, thực vật, và những bông hoa này cũng được lưu giữ đến hàng năm không phai tàn…

Kinh Huệ Lâm Âm Nghĩa viết: “Ưu Đàm Hoa, là lược dịch sai từ tiếng Phạn Cổ. Đúng Phạn Ngữ là Ô Đàm Bạt La, nghĩa là điềm lành linh dị. Đây là thiên hoa, thế gian không có loại hoa này. Nếu Như Lai giáng sinh, Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện nơi thế gian con người, loài hoa này sẽ xuất hiện nhờ đại đức và đại ân của Ngài”

Quyển 4 kinh “Pháp Hoa Văn Cú” viết:“Ưu Đàm Hoa, có nghĩa là may mắn linh thiêng. Ba nghìn năm mới nở một lần, khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện.”

Kinh Phật cũng ghi lại rằng Đức Chuyển Luân Thánh Vương là vị vua lý tưởng, người sẽ cai trị thế giới không phải bằng vũ lực mà bằng công lý. Những ai dùng thiện để đối đãi với người khác sẽ có cơ hội gặp đức Chuyển Luân Thánh Vương, bất kể người đó thuộc tôn giáo nào – Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Khổng giáo hay một tín ngưỡng nào khác.

Những bông hoa Ưu Đàm Bà La, một loài thiên hoa nhỏ li ti trắng muốt, thân hoa mỏng như sợi tơ, trong suốt, sắc trắng như tuyết, xung quanh tỏa ra vầng sáng nhàn nhạt...Ảnh chụp thật bởi Thời Báo Đại Kỷ Nguyên, kích cỡ phóng to 400 lần, nhìn rõ thân hoa trong suốt như pha lê và từng lớp cánh mỏng phát sáng.
Những bông hoa Ưu Đàm Bà La, một loài thiên hoa nhỏ li ti trắng muốt, thân hoa mỏng như sợi tơ, trong suốt, sắc trắng như tuyết, xung quanh tỏa ra vầng sáng nhàn nhạt…Ảnh chụp thật bởi Thời Báo Đại Kỷ Nguyên, kích cỡ phóng to 400 lần, nhìn rõ thân hoa trong suốt như pha lê và từng lớp cánh mỏng phát sáng.

Lời tiên tri trong kinh Phật đã ứng nghiệm, những bông hoa Ưu Đàm Bà La hiện giờ đã khai nở khắp nơi, phải chăng Đức Chuyển Luân Thánh Vương đã có mặt tại nhân gian và đang cứu độ chúng sinh?

Theo daikynguyenvn.com

x