• TINHHOANET

Truyền thuyết về Tổ sư phái Võ Đang Trương Tam Phong

Có đến 20 loại giả thuyết về tên tuổi, tự hiệu và quê quán của Trương Tam Phong.

So sánh những giả thiết phổ biến, chúng ta có thể biết ông có các tên Trương Thông, Trương Toàn Nhất tên tự là Quân Thực (hay Quân Bảo), hiệu là Huyền Huyền Tử, ở Ý Châu Liêu Đông giữa đời Nguyên, Minh.

Trương Tam Phong có phong tư khôi vĩ, mắt lớn tai to, râu dài tới rốn. Bất cứ thời tiết nóng hay lạnh, ông chỉ mặc 1 áo nạp và 1 nón mê, có khi ăn nhiều hết mấy đấu cơm, nhưng cũng có khi 1 ngày chỉ ăn 1 lần, hoặc mấy tháng không cần ăn. Vì không chú ý về ăn mặc nên ông được người ta gọi là “Trương lạp thác”, lạp thác: bẩn thỉu.

Trong các môn phái Võ thuật ở Trung Quốc thì hai phái nổi tiếng nhất là Võ Đang và Thiếu Lâm. Một phái ở miền Nam, một phái ở miền Bắc. Một phái thuộc Đạo gia, một phái thuộc Phật gia. Nói đến Thiếu Lâm quyền không thể không nói đến Đạt Ma Tổ Sư. Nói đến Võ Đang Nội Gia Quyền không thể không nói đến Trương Tam Phong với hành trạng thần bí. Kỳ thực địa vị Trương Tam Phong trong lịch sử Đạo Giáo còn rực rỡ hơn lịch sử sáng lập phái Võ Đang nữa. Đạo giáo bắt đầu từ đời Kim và Nguyên, dần dần chia ra làm hai nhánh lớn là Chính Nhất Giáo và Toàn Chân Giáo, một ở phương Nam, một ở phương Bắc, đại để họ lấy vùng Nam Bắc sông Giang – sông Hoài làm ranh giới.

Chính Nhất Giáo là tên gọi tắt các phái sùng bái quỷ thần, vẽ bùa niệm chú, đuổi ma trừ tà; còn Toàn Chân Giáo chú trọng vào đạo đức tự thân và tu dưỡng. Đến thời cuối Minh đầu Thanh, hai phái lại có xu thế giao lưu dung họp với nhau nhờ sự vận động của Trương Tam Phong. Vị “ẩn tiên” tiêu diêu tự tại Trương Tam Phong là người hành tung vô định và là một đạo sĩ có phần thần bí.

Theo truyền thuyết của Đạo giáo, Trương Tam Phong từng là thuộc viên của Thái thú Hoa Châu. Một lần nọ, ông cùng Thái Thú đến Hoa Sơn bái kiến một Đạo sĩ tên Trần Đoàn. Trần Đoàn mời họ ngồi, bày trà và đặt một chỗ ngồi cao quý như có ý chờ đợi ai đó. Một lúc sau, quả nhiên có một vị Đạo sỹ đến với áo bào lam, nón vải, thái độ ngạo nhiên. Trần Đoàn hết sức cung kính với vị Đạo sỹ ấy, hai người nói chuyện một hồi. Thái Thú thấy mình bị đối xử lạnh nhạt có phần không vui. Vị đạo sỹ nọ rút từ ống tay áo ra ba hột táo, một đỏ, một trắng, một xanh và nói:

“Tôi đến đây vội quá không mang theo vật gì, chỉ có ba hột táo này, chúng ta chia nhau cùng ăn nhé”.

Rồi tự ăn một hột màu đỏ, hột trắng chia cho Trần Đoàn, hột xanh cho viên Thái thú. Thái Thú cho rằng Đạo Nhân khinh mình nên trao hột xanh ấy cho Trương Tam Phong. Trương Tam Phong ăn liền và lập tức thấy tinh thần như đổi khác, thân thể nhẹ nhàng, khoẻ mạnh hẳn lên. Đạo nhân cười lớn bái biệt rồi đi mất dạng. Thái Thú lấy làm lạ bèn hỏi nguyên do, Trần Đoàn đáp:

“Đạo nhân ấy là tiên ông Lã Động Tân đó. Ba hột táo kia là táo tiên chia ra làm ba loại thượng, trung, hạ. Đại nhân còn tục cốt nên chỉ ăn hột xanh. Đạo tu thân không thể một bước lên trời được mà phải tiến theo tuần tự, dục tốc bất đạt mà”.

Thái Thú nghe xong lấy làm ân hận vì mình đã bỏ mất cơ duyên. Sau khi ăn được táo tiên, Trương Tam Phong đã thành người tiên đắc đạo bèn đi lãng du giang hồ, hành tung không định. Có lúc ông hồn nhiên tự tại cười nói giữa chợ, cầu đảo trừ hoạ cho người, có lúc lại làm nông dân, được mọi người gọi là “Chân tiên”. Sau đó, Trương lạp thác đến núi Võ Đang ở Hồ Bắc, vào núi tu luyện, lập am ở trước Ngọc Hư Cung dưới cây cao gò sâu, luyện thành “Cửu chuyển kim đan”. Trương Tam Phong thường nói với người bản địa:

“Núi này ngày sau đại hiển đấy”.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương rất hâm mộ ông, sai người đi tìm nhưng không gặp. Sau Minh Thành Tổ Chu Lệ nhiều lần sai người đi tìm nhưng đều không gặp. Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (Tây lịch 1404), Thành Tổ Chu Lệ gửi cho Trương Tam Phong bức thư:

“Hoàng Đế kính dâng thư lên chân tiên Trương Tam Phong,

Trẫm ngưỡng mộ chân tiên đã lâu, mong cầu được thân đón bậc nghi phàm, từng sai sứ bầy hương án viết thi đi tìm hêt danh sơn để mời đón. Đạo Đức chân tiên cao cả, cao hơn vạn hữu, thể hợp với tự nhiên, thần diệu khôn lường. Tài chất của Trẫm kém cỏi, đức hạnh mỏng manh, mà chỉ có lòng chí thành mong gặp, suốt đêm ngày không quên. Lại kính cẩn sai sứ dâng thư cẩn trọng mời, mong chờ xe mây giá lâm để thoả lòng kính mộ mong mỏi của Trẫm.

Ngày 6 tháng 2″.

Lòng chí thành cung kính của một vị thiên tử với một “đạo sỹ bẩn” như thế cũng là tột cùng. Sau này Thành Tổ Chu Lệ phong Trương Tam Phong là “Lão sư”, “Chân tiên”. Minh Thế Tông Chu Hậu tổng lại gia phong thêm tên hiệu “Thanh Hư nguyên diệu chân quân”. Trương Tam Phong rất được người đời tôn sùng. Trước tượng của ông ở Chân Tiên điện, viên gạch xanh ở dưới đất bị lõm sâu xuống bởi người ta dập đầu bái lạy.

Vậy cuộc đời của Trương Tam Phong, cuối cùng rút ra ý nghĩa sống của con người là gì?

Đời người đi tìm cái gì là tối cao? Đó là những câu hỏi mà nhân loại đã đi tìm lời giải đáp suốt mấy ngàn năm qua. Nói cho cùng, bất luận là Nho gia, Đạo gia, Phật gia hay Cơ Đốc giáo, Hồi giáo cũng chỉ là tìm câu giải đáp về “kiếp người” ấy thôi. Đạo gia Trương Tam Phong cũng có câu giải đáp của riêng mình!

Sinh hoạt vật chất của Trương Tam Phong thấp đến độ cuối cùng, một năm bốn mùa ông chỉ có 1 áo nạp, 1 nón mê, mặc không đủ ấm, ăn không đủ no, bẩn thỉu như một “tiên sinh ăn mày”. Trong con mắt người đời, Trương lạp thác như vậy là khổ lắm, nhưng trong lòng ông lại cảm thấy vô cùng khoái hoạt, vô cùng tự tại, và nhờ vậy vô cùng trường thọ. Chỉ cần ông gặp Thái tổ hoặc Thành tổ 1 lần thì đã có đủ hết vinh hoa phú quý, nhưng Trương Tam Phong coi quyền thế như cỏ rác, tiền của như đất cát, ông từ chối không gặp, mặc lời mời khẩn khoản của Hoàng đế. Trương Tam Phong chủ trương cuộc đời là sống theo ý thích của mình, không bị câu thúc bời bất kỳ cái gì. Thậm chí ông còn chẳng để ý đến các giới luật của đạo môn nữa. Ông chỉ cầu được tiêu diêu tự tại, điều ấy phản ánh khá nhiều trong bài thơ tương truyền của ông như:

Khoái khoái khoái, hồng trần ngoại
Nhàn nhàn nhàn, tự vân gian
Diệu diệu diệu, tùng nhai nhất thanh khiểu
Lai lai lai, bồng lai đảo hoa khai.

Tạm dịch: 
Nhanh nhanh nhanh, ngoài cõi trần
Nhàn nhàn nhàn, giữa mây vần
Diệu diệu diệu, hú một tiếng non vào núi
Đến đến đến, đảo bồng lai hoa xuân.

Sáng tạo đạo phái Võ Đang và Nội Gia quyền Võ Đang ở Hồ Bắc có khí thế hùng vĩ, từ xưa đã được xưng tụng là “Thái Nhạc” và “Thiên hạ danh sơn”, trở thành một thánh địa của Đạo giáo với những đạo nhân nổi tiếng như đời Chu có Doãn Hy, đời Hán có Âm Trường Sinh, đời Tấn có Tạ Sung, đời Đường có Lã Động Tân, đời Tống có Trần Đoàn, đời Nguyên có Trương Tông Thanh, đều tu luyện ở đó. Từ đời Đường, nơi bắt đầu xây dựng đạo quán. Đời Tống, đời Nguyên đều xây dựng thêm. Đến cuối đời Nguyên, các đạo quán ấy đa số bị huỷ hoại bởi binh loạn liên miên. Đến đời Minh, Thành Tổ mới cho xây dựng lại quy mô các quần thể cung khán khiến nơi đây thành danh sơn đạo giáo do Minh Thành Tổ quá sùng bái Trương Tam Phong. Núi Võ Đang là đại bản doanh của Trương Tam Phong tu luyện và truyền đạo, ông vào núi Võ Đang rồi nhưng chưa công khai tự lập môn phái, chỉ lấy danh nghĩa là đạo gia du phương tự nhận đệ tử. Các đạo sỹ ở núi Võ Đang đều thờ Trương Tam Phong là tổ sư phái Võ Đang.

Võ Đang phái của Trương Tam Phong có nhiều điểm khác biệt. Một là thờ bái Chân Võ Đại Đế, coi Chân Võ Đại Đế là tổ sư. Hai là coi trọng tu luyện “nội đan”. Phái Võ Đang thuộc phái thanh tu, coi trọng tu luyện nội đan, đối lập với “ngoại đan”. Ngoại đan là điều chế dược thảo bằng lô đỉnh để chế tạo thành thuốc “trường sinh bất tử” (tức kim đan). Sau các đạo sỹ dùng phương thuật ấy phát triển thêm, đem thân thể chính mình ra làm “lô đỉnh” (lò nấu), dùng thể chất “tinh” và “khí” của mình làm dược liệu. Theo họ, điều này sẽ khiến cho “tinh, khí, thần” ngưng tụ kết thành “Thánh Thai”, đó gọi là “nội đan”. Ba là tập luyện kỹ thuật Nội Gia quyền của Võ Đang. Bốn là chủ trương tam giáo hợp nhất. Không ít sách vở đã chép, Nội Gia quyền là do Trương Tam Phong sáng lập, theo truyền thuyết là do đêm ông nằm mộng thấy Chân Võ Đại Đế truyền dạy cho môn quyền pháp ấy rồi sáng tạo ra Võ Đang phái Nội Gia quyền, chuyên về nội công. Cuối đời Minh có Hoàng Tông Hy viết “Vương Trưng Nam mộ chí minh” nói rằng: “Sở dĩ gọi là Nội Gia vì lấy tĩnh chế động, kẻ sử dụng ứng theo tay mà phát ra để phân biệt với nội gia của Thiếu Lâm, đó bắt đầu từ Trương Tam Phong”.

Các triết gia Trung Quốc trong vòng hơn 2000 năm không ngừng tìm hiểu sự khởi nguyên của trời đất, họ đã đề xuất ra quan niệm vạn vật nhất thể và mọi biến hoá của trời đất đều do hai khí “Âm” và “Dương” kết hợp. Họ cho rằng thiên biến vạn hoá do hai quẻ “Càn” và “Khôn” mà ra. Trương Tam Phong kế thừa quan điểm ấy, ngay đến tên “Tam Phong” của ông theo tự hình cũng liên quan tới “Càn” và “Khôn”. Trong “Thái Cực quyền luận” ông cũng kết hợp các triết lý Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái. Trương Tam Phong cho rằng tập luyện Nội Gia quyền trước hết là để dưỡng tâm định tính, tụ khí thu thần. Cũng giống như Thiếu Lâm quyền, Nội Gia quyền không truyền cho người ngoài môn phái, đến nay truyền thống ấy vẫn còn. Võ đang do Trương Tam Phong sáng lập, sau này dần dần được sát nhập vào Toàn Chân đạo, người đời sau thu thập các tác phẩm của ông thành bộ “Trương Tam Phong toàn tập”.

Theo “Trung Quốc đạo giáo chư thần” 

x