• TINHHOANET

Truyền thuyết Hoàng Hạc Lâu – Câu chuyện xưa về lòng tốt và phúc báo

Hoàng Hạc Lâu là một trong “Tứ đại danh lâu” nổi tiếng của đất nước Trung Hoa, nó gắn liền với câu chuyện thần thoại liên quan đến lòng tốt, phúc báo và đức tin của người xưa đối với Thần.

Hoàng Hạc Lâu năm 1870. (Wikicommon)
Hoàng Hạc Lâu năm 1870. (Wikicommon)

Hoàng Hạc Lâu là thắng cảnh nổi tiếng ở Vũ Hán gắn liền với sông Trường Giang và là một trong “Tứ đại danh lâu” của Trung Hoa. Ngôi lầu này nằm bên bờ sông Dương Tử và nhìn ra thành phố Vũ Hán, tỉnh Hà Bắc.

Biết bao thi nhân, có cả Thôi Hiệu và Lý Bạch, từng viết nên những áng thơ nổi tiếng về ngôi lầu này. Truyền thuyết kể rằng Hoàng Hạc Lâu được xây dựng để tỏ lòng tôn kính với một vị Đạo tiên.

Ngày xưa, tại ngôi làng nọ có người đàn ông họ Tân là chủ một quán rượu nhỏ. Một hôm, bỗng đâu xuất hiện ông lão ăn mặc rách rưới đến và hỏi xin một bát rượu. Ông chủ Tân không hề coi thường vì vẻ bề ngoài của ông lão, mà còn mời ông một bát rượu lớn không lấy tiền.

Sáu tháng tiếp đó, ngày nào ông lão kia cũng đến xin rượu. Và lần nào ông chủ Tần cũng đều cho rượu mà không hề khó chịu.

Một ngày nọ, ông lão nói với ông chủ Tân: “Tôi nợ ông rất nhiều tiền rượu, nhưng tôi không có tiền để trả ông”. Rồi ông lão lấy ra một miếng vỏ cam từ chiếc túi mang bên người và vẽ lên tường một con hạc vàng.

Ông lão nói: “Chỉ cần vỗ tay khi có khách ở đây, con hạc sẽ nhảy múa”.

Rồi ông vỗ tay và hát để chứng minh điều mình vừa nói. Con hạc quả thực nhảy ra khỏi bức tường và nhảy múa theo điệu nhạc.

Dần dần, danh tiếng của quán rượu ông Tân ngày càng lan rộng bởi con hạc biết nhảy múa. Nhiều vị khách tới để được tận mắt chứng kiến điều kỳ lạ, thế là ông chủ Tân những năm về sau làm ăn rất khấm khá.

Hoàng Hạc Lâu có nghĩa là “Lầu Hạc Vàng”. (Ảnh: Internet)
Hoàng Hạc Lâu có nghĩa là “Lầu Hạc Vàng”. (Ảnh: Internet)

Một ngày nọ, ông lão kia trở lại, vẫn trong bộ quần áo rách rưới. Ông chủ Tân vẫn không quên ân tình xưa, ngỏ ý muốn phụng dưỡng ông lão khoảng đời còn lại.

Ông lão cười đáp: “Đó không phải là lý do ta tới đây”.

Rồi ông lão rút ra một cây sáo thổi vài điệu nhạc. Khi tiếng sáo vang lên, những đám mây đang lơ lửng trên cao bỗng nhiên hạ xuống, rồi từ trong đó một con hạc bay về phía họ. Ông lão cưỡi trên lưng hạc bay lên trời.

Ông Tân cảm ân vô ngần, trong lòng chắc chắn đó là một vị Đạo tiên. Để tỏ lòng cảm kích, ông cho xây một ngôi lầu tại nơi vị Đạo tiên cưỡi hạc bay lên trời. Nó được đặt tên là Hoàng Hạc Lâu, có nghĩa là “Lầu Hạc Vàng”.

Tương truyền, khi “Thi tiên” Lý Bạch đến Lầu Hoàng Hạc du ngoạn, định đề thơ, nhưng đọc xong thơ Thôi Hiệu đã đề trước đó, ông đành nghiêng mình gác bút, ngửa mặt lên trời mà than rằng:

“Nhãn tiền hữu cảnh đạo vô tắc,

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”.

Tạm dịch:

Cảnh đẹp nhường kia sao khó viết.

Trên đầu Thôi Hiệu đã đề thơ!

Cho đến nay, tại Việt Nam đã có nhiều nhà thơ đã dịch Hoàng Hạc Lâu ra tiếng Việt. Tản Đà là một trong những người dịch đầu tiên và tài năng của ông đã giúp cho bài thơ trở nên quen thuộc với người Việt Nam. Ngoài ra, có thể kể đến những bản dịch của Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Ngô Tất Tố…

Bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu. (Ảnh: Internet)
Bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu. (Ảnh: Internet)

Dịch thơ:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Bản dịch của Tản Đà)

***

Trung Quốc cổ đại không hề thiếu những câu chuyện mang đậm màu sắc thần tiên như Hoàng Hạc Lâu. Nhiều người tỏ vẻ không tin, nhưng vào thời cổ đại thực sự xuất hiện rất nhiều người thông qua tu luyện mà đắc đạo thành tiên, con người theo đó hết mực tin vào thần. Vì nhờ tín tâm vào Thần, tin vào chuyện tu luyện nên cảnh giới tư tưởng và đạo đức của người xưa hết sức cao thâm. Vì tin vào nhân quả nên họ một lòng hướng thiện, từ đó biết rằng cảnh giới cao nhất của con người không phải là quyền cao chức trọng mà là sự thăng hoa của tâm hồn.

Con người ngày nay cho những chuyện xưa là mê tín, họ không tin có thần, theo đó mà đạo đức ngày càng thấp kém, thế giới quan chỉ quanh quẩn trong danh tình lợi. Than ôi, những phương tiện kỹ thuật hiện đại đang giới hạn và trói buộc con người, ngăn cản họ không cho thấy được chân tướng sự việc, chỉ tin vào những quan sát bằng cặp mắt thịt này, không thể và không dám khám phá thế giới đa không gian bí ẩn quanh họ.

Chỉ có tu luyện theo chính Đạo, con người mới có thể khai mở tầm nhìn và tiếp cận thế giới xung quanh chân thực nhất. Điều khó khăn đầu tiên chính là ngộ tính, là niềm tin vào Thần Phật. Việc tìm hiểu Văn hóa Thần truyền mấy ngàn năm là điều rất cần thiết, qua đó sẽ vun đắp đức tin vào Thần Phật cho con người.

Phan Long, theo Daikynguyenvn

Tinh Hoa kể chuyện: Lý Ký trảm xà

x