• TINHHOANET

Tiền “Nhân dân tệ” của Trung Quốc chính thức được lưu hành ở 7 tỉnh tại Việt Nam

Các thương nhân, cư dân biên giới Việt Nam, Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới giữa 2 nước sẽ được sử dụng đồng tiền thanh toán gồm nhân dân tệ, VNĐ và ngoại tệ tự do chuyển đổi.

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10.

Thông tư quy định các đối tượng được sử dụng đồng nhân dân tệ trong thanh toán gồm: thương nhân, cư dân biên giới Việt Nam, Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới giữa 2 nước; các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh ngoại hối. Các tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế, tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan tại vùng biên giới, khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động thanh toán trong thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Tiền “Nhân dân tệ” của Trung Quốc chính chính thức được lưu hành ở 7 tỉnh tại Việt Nam. (Ảnh: Internet)

Cùng với đồng nhân dân tệ, VNĐ và ngoại tệ tự do chuyển đổi cũng được dùng trong các giao dịch thanh toán ở biên giới.

Thông tư quy định việc hoạt động sử dụng tài khoản đồng nhân dân tệ (CNY), VNĐ nhằm tạo cơ sở pháp lý để thương nhân Việt Nam, Trung Quốc thực hiện các giao dịch thu, chi bằng đồng bản tệ trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ.

Ngoài ra, thông tư cũng quy định một số hoạt động ngoại hối khác như ủy thác thanh toán bằng đồng CNY, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu CNY tiền mặt và VNĐ tiền mặt. Quy định cụ thể trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh biên giới, ngân hàng được phép cũng như của cá nhân, thương nhân và tổ chức khác nhằm giám sát, quản lý chặt chẽ, có hiệu quả đối với hoạt động quản lý ngoại hối trong thương mại biên giới Việt – Trung.

Lợi trước mắt

Giúp thương nhân Việt Nam sản xuất, buôn bán dễ dàng hơn ở các tỉnh biên giới” và “giúp giới sản xuất và đầu tư Trung Quốc di chuyển một số hãng xưởng sản xuất và dự án đầu tư sang Việt Nam” là hai cái lợi trước mắt được nhà nước dẫn chứng khi đưa tin về Thông tư 19.

Chính phủ cho rằng sẽ có thể kiểm soát, “tránh việc dùng tiền Trung Quốc tràn lan trên lãnh thổ Việt Nam” bằng “các văn bản pháp quy bảo đảm chặt chẽ cho Thông tư 19 về giới hạn phạm vi áp dụng và cơ chế giám sát thực hiện“.

Nhưng suy xét kỹ, có thể thấy việc “cố gắng giới hạn phạm vi áp dụng” và “cơ chế giám sát chính sách chặt chẽ để bảo đảm việc tuân thủ luật pháp” đều là các việc khó làm từ xưa đến nay.

Lợi bất cập hại

Phân tích kỹ hơn các yếu tố sâu xa cả trong ngắn hạn và dài hạn, bài thảo luận ngắn này trình bày các mối hại lớn hơn nhiều cho guồng máy sản xuất và cả nền kinh tế Việt Nam trong 2-3 năm tới. Dẫn tới nguy cơ Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc Trung Quốc về kinh tế và chính trị.

Trong ngắn hạn, Thông tư 19 sẽ tác động tai hại lên chính sách tiền tệ độc lập của Việt Nam, làm suy yếu tiền VND và sẽ gây ra các biến động tiền tệ và tâm lý khó lường trong vòng từ 3-6 tháng. Nhất là việc đầu cơ tiền tệ có thể làm tan biến khối dự trữ ngoại tệ 65-70 tỷ USD của NHNN một cách nhanh chóng nếu muốn dùng dự trữ đó để bảo vệ tỷ giá sau này.

Sau khi phân tích các điểm này, thì kết luận rõ ràng là lợi bất cập hại như sau:

1. Vấn đề vi hiến và vi phạm luật NHNN hiện hữu

Chủ quyền kinh tế, chủ quyền tiền tệ là những cấu thành đặc biệt của chủ quyền chính trị, chủ quyền quốc gia; mất chủ quyền tiền tệ này là mất chủ quyền quốc gia, như TS Lê Đăng Doanh ở Hà nội nêu ra.

Ngoài khía cạnh vi hiến, Thông tư 19 còn vi phạm trầm trọng Luật Quản lý Ngoại hối của chính NHNN (như sẽ bàn dưới đây).

Thông tư 19 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép đồng NDT được lưu hành tại bảy tỉnh biên giới Trung Quốc -Việt Nam, sẽ không có cơ chế nào hữu hiệu để ngăn chặn những đồng NDT được sử dụng ở những nơi khác ngoài bảy tỉnh đó, theo nguyên tắc Bình Thông nhau quen thuộc; và mặc nhiên NDT trở thành một loại tiền tệ chính thức (legal tender) ở Việt Nam.

Đồng NDT được cho phép lưu hành ở 7 tỉnh biên giới VN giáp TQ. (Ảnh: Linh Phạm)

2. Có sự hiểu nhầm hay cố ý không hiểu khác biệt giữa chấp nhận NDT trong giỏ tiền tệ của IMF và dùng NDT như một loại tiền tệ của quốc gia

Một là, giỏ tiền tệ chỉ dùng làm mốc cho việc xác định tỷ giá của tiền trong nước và không có liên quan gì đến việc dùng tiền tệ của một quốc gia. Một số đông người có thể hiểu lầm rằng NDT có trong giỏ tiền SDR của IMF (một sự thực), coi NDT là đồng tiền chuyển đổi tự do, là có thể được các nước chấp nhận làm đồng tiền thanh toán trong giao dịch quốc tế.

Thí dụ dễ hiểu về khái niệm của đồng tiền chính thức (legal tender) và giỏ tiền tệ: Thái Lan dùng tiền Baht như là đồng tiền chính thức duy nhất trong nước họ nhưng lại dùng SDR (giỏ tiền tệ nổi tiếng của IMF với nhiều tiền “lớn” khác kể cả NDT) làm tiêu chuẩn ấn định tỷ giá của họ.

Nếu có cả USD và NDT, ảnh hưởng chuyển động trái ngược của tỷ giá hai đồng tiền này trong giỏ chọn lựa sẽ có tác động trung hòa với tiền Baht nếu Ngân hàng trung ương Thái Lan không quyết định tăng hay giảm ảnh hưởng của một thứ tiền trong giỏ đó.

Hai là, Thông tư 19 mặc dù không công nhận NDT là đồng tiền chính thức của Việt Nam nhưng việc NHNN cho phép lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam tức là công nhận NDT là đồng tiền chính thức thứ hai (dual currency), lưu hành song song với VND.

3. Tác động quan trọng nhất là lên tỷ giá VND và chính sách tiền tệ độc lập của NHNN ở Việt Nam

Thông tư 19 của NHNN cho phép 95 triệu dân ở Vân Nam và Quảng Tây cùng với vài triệu dân Việt Nam, hay gần 100 triệu người tức hơn toàn bộ dân số VN hiện nay, được dùng NDT cho chi thu thương mại và đầu cơ tiền tệ ở trên lãnh thổ VN.

Tuy gọi là biên mậu (mậu dịch ở biên giới), nhưng ở phía Trung Quốc cũng như ở Việt Nam liệu có quy định nào giới hạn phạm vi trao đổi chỉ của các tỉnh biên giới. Thực tế ở Việt Nam lâu nay các tỉnh miền Nam vẫn đưa hàng lên biên giới bán cho Trung Quốc và được coi là biên mậu! Điều này cho thấy nguy cơ NHNN không kiểm soát được chính sách tiền tệ, khả năng phụ thuộc vào đồng tiền Trung Quốc là rất lớn.

Tùy số tiền NDT của Trung Quốc được nới rộng hay thu hẹp ở Việt Nam, NHNN sẽ không kiểm soát được khối tiền tệ lưu hành ở Việt Nam. Thậm chí không có số đo chính xác về khối tiền đó trong nước, như từ trước đến nay. Quan trọng nhất, NHNN mất cả khả năng ấn định chính sách tín dụng rộng hay thắt chặt một cách độc lập.

Ngoài ra, tỷ giá VND sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi tỷ giá NDT. Đây là vấn đề rất quan trọng hiện nay, vì trong cuộc thương chiến Mỹ-Trung hiện tại, tiền NDT đã mất giá 9% từ tháng 4/2018, trong khi VND chỉ mới mất giá 4-5 % so với USD.

Sự lan truyền mạnh của NDT ở Việt Nam sang hai trung tâm tiền tệ lớn là Hà Nội và Sài Gòn sẽ có thể làm VND mất giá thêm 4-5% trong thời gian ngắn do đầu cơ tiền tệ, ngay cả lúc chưa có tác động nào khác của các yếu tố thương mại giữa tay ba Mỹ-TQ-VN .

Tương lai cuộc thương chiến Mỹ-Trung đang có đà sẽ bộc phát mạnh mẽ hơn để “thị uy” nhằm mục đích chiến tranh tâm lý trước khi thương nghị chính thức trở lại giữa hai quốc gia Mỹ -Trung và với các đối tác khác (Hội nghị G20 vào tháng 11/2018).

Sang tháng 12/2018, Mỹ có thể sẽ tuyên bố áp thêm thuế 25%, tăng từ 10%, lên 200 tỷ đô hàng nhập từ Trung Quốc. Để trả đũa, Trung Quốc chỉ có thể áp lên cùng thuế này trên số hàng nhập còn lại từ Mỹ trị giá 80 tỷ đô (tổng số hàng nhập từ Mỹ là 130 tỷ năm 2017). Điểm yếu huyết mạch của Trung Quốc là chỗ này. Dân chúng và giới thương gia Trung Quốc nhất định sẽ phải “phòng thủ” bằng cách trốn khỏi tiền NDT qua dự trữ USD, tiền yen, Euro, và có thể là vàng (nơi ẩn trú tiền để dành quan trọng của dân Á đông).

Nếu tiền NDT xuống quá mức 7,0-7,2 ăn 1 USD (từ 6,9 hiện nay; hay ngay cả xuống thêm 10%), hệ thống tiền tệ Trung Quốc sẽ rối loạn toàn bộ. Và ảnh hưởng lên tỷ giá VND do một mình yếu tố đầu cơ tiền tệ này thôi sẽ có thể dễ dàng đẩy tỷ giá VND tới mức 24.000-25.000/ 1 USD.

Việt Nam sẽ mất nguồn thu ngân sách quan trọng trong kinh tế học gọi là “seignorage” khi không chủ động được chính sách tiền tệ của quốc gia.

4. Tác động gia tăng của thương chiến Mỹ-Trung lên kinh tế và tỷ giá VND

Theo kinh nghiệm về tiền tệ thế giới, đồng tiền mạnh bao giờ cũng lấn át đồng tiền yếu. Nếu như đồng NDT với số lượng hàng hóa ở đằng sau và với việc họ phá giá tiền của họ, giá thành của hàng TQ rẻ đi, sẽ tạo ra một ưu thế rất lớn với hàng hóa của Việt Nam. Nhiều kỹ nghệ của Việt Nam sẽ bị bóp nghẹt.

Việc ai cũng e ngại là Trung Quốc sẽ tuồn hàng sang Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ nhằm tránh áp thuế cao. Mỹ đã sẵn sàng với việc này và có thể sẽ áp thuế 25% lên hàng nhập từ Việt Nam và ngay cả ngăn chặn hàng Việt Nam có “gốc Trung Quốc” được nhận biết khá dễ dàng qua hệ thống tin tức thương mại của Mỹ.

Theo BBC

x