• TINHHOANET

Thiền sư Từ Đạo Hạnh – Bậc Thánh nhân miền đất Việt

Từ Lộ tự là Đạo Hạnh, người làng An Lãng huyện Vĩnh Thuận. Ông là 1 thiền sư sống vào thời Lý, cuộc đời của ông gắn liền với các Thần tích và những câu chuyện thần bí về tu luyện và thần thông mà vẫn lưu truyền đến ngày nay.

Lai lịch, xuất thân

Chuyện kể, phụ thân của Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh vốn là nhà sư, sau hoàn tục ra làm Tăng quan đô sát triều nhà Lý. Lúc nhàn, ông thường vào chơi làng An Lãng, xem thấy tại mảnh đất phía Nam có linh khí rất vương, biết nơi đây ắt sẽ sinh ra bậc tiên thánh hiền tài, nên sau khi lấy vợ, ông cho dựng nhà tại đây. Vợ Từ Vinh sau này sinh được 2 con, 1 nữ và 1 nam, nam tức là Đạo Hạnh.

Đạo Hạnh lúc còn bé hay chơi bời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phí Sĩ, Phan Ất, Lê Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui.

Cha thường vẫn trách mắng là biếng học, nhưng sau biết cứ đến đêm thì Đạo Hạnh chăm học lắm, từ bấy giờ mới không nói gì nữa. Về sau quả Đạo Hạnh thi khoa Bạch liên đỗ Tăng quan.

Sau này, Từ Vinh vì đắc tội với ông Diên Thành hầu, bị hầu gia sai pháp sư Đại Điên dùng phép đánh chết, rồi mang xác quẳng xuống sông Tô Lịch.

Từ Vinh chết oan, xác trôi qua cầu Yên Quyết, đến bên nhà Diên Thành hầu, bỗng nhiên đứng lên trỏ tay vào trong nhà, suốt ngày hôm ấy không đi. Diên Thành hầu mời Đại Điên đến. Đại Điên đến nơi quát rằng:

Người tu hành giận không để qua đêm, dù sống dù chết, cũng là một giấc mộng mà thôi”.

Nói dứt lời thì thây ngã xuống trôi đi, xác Từ Vinh trôi đến xã Nhân Mục thì lại dừng lại thêm một lần nữa. Người làng này thấy vậy, cho là linh thiêng, bèn vớt lên hậu táng, rồi sau đó dựng lăng miếu và đắp tượng thờ, hàng năm tổ chức tế lễ vào ngày mồng 10 tháng giêng, là ngày giỗ của Từ Vinh.

Từ Đạo Hạnh biết cha bị giết oan, buồn rầu không ra làm quan mà quyết tâm trả thù. Một hôm, Đạo Hạnh rình khi Đại Điên đi chơi, muốn đón đường đánh, bỗng nghe trên không có tiếng ngăn rằng: “Chớ! Chớ!”. Vì thế bỏ gậy chạy về.

Đạo Hạnh nghĩ lấy làm giận lắm muốn sang nước Ấn Độ học phép, nhưng đường lối hiểm trở, khi đi qua núi Kim Sỉ thì quay trở về, sau ở ẩn tại chùa Thiên Phúc trên núi Sài Sơn.

Trong thời gian tại chùa Thiên Phúc, Từ Đạo Hạnh chuyên tậm đọc kinh Đại Bi Đà La. Tương truyền, đây là bộ kinh rất dày, nói về giáo lý của nhà Phật và cũng chứa đựng cả những thuật pháp cao siêu, phải là người thông minh, có căn cơ cao mới có thể ngộ được. Từ Đạo Hạnh rất kiên trì, đem cuốn kinh đọc đủ mười vạn tám nghìn lần mới thôi.

Ở trước chùa Thiên Phúc có 2 cây thông cổ thụ, dân chúng trong vùng vẫn quen gọi đây là 2 cây rồng. Từ Đạo Hạnh ngày nào cũng ngồi dưới cây mà đọc kinh khiến cho cả 2 cây cổ thụ cứ dần rụng lá, rồi cuối cùng biến mất. Từ Đạo Hạnh biết công phu tu tập có linh ứng nên càng ra sức tinh tấn.

Một hôm thấy từ trên không 1 tiếng nhạc vang lừng, 1 vị thần cưỡi xe đi xuống, bước đến lạy trước Đạo Hạnh nói:

Đệ tử là Tứ trấn thiên vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh cho nên lại hầu, tùy thầy muốn sai khiến gì tôi xin vâng lệnh”.

Đạo Hạnh biết là đạo pháp mình đã thành rồi, lại nghĩ Đại Điện dùng tà thuật hại người, không thể không trừ. Vì thế, Từ Đạo Hạnh xuống núi, đến đầu bến sông Yên Quyết, cầm cái gậy ném xuống sông. Nước sông chảy xuôi mà gậy thì trôi ngược, trông tựa con rồng, đi mãi đến cầu Tây Dương mới thôi.

Đạo Hạnh mừng nói rằng:

Phép ta hơn Đại Điên nhiều rồi!

Đạo Hạnh mới dùng phép tàng hình đến thẳng chỗ Đại Điên ngồi chơi, bảo rằng:

“Nhà ngươi còn nhớ việc ngày trước không?”

Đại Điên ngẩng đầu lên trông, không thấy gì. Đạo Hạnh cầm gậy đánh, Đại Điên vì thế thành bệnh mà chết. Nhưng cũng vì thế, Từ Đạo Hạnh mắc phải tội sát sinh, sau này phải gặp tai hòa, chịu khổ luân hồi thêm 1 kiếp nữa mới tu thành được.

Rủ sạch lòng trần, vân du tìm Đạo

Đạo Hạnh sau khi trừ Đại Điên xong, từ bấy giờ tan hết oán cũ, sạch hẳn lòng trần, mới đi chơi khắp nơi rừng núi, tầm sư cầu Đạo.

Nghe có Kiều Trí Huyền tinh thông đạo phép, đến hầu tận nơi, hỏi thế nào là chân tâm.

Có câu kệ rằng:

Cửu hỗn phàm trần vị thức câm ( kim).

Bất tri hà xứ thị chân tâm

Nguyện thùy chỉ đích khai phong tiệm

Liễu kiến như như đoạn khổ tâm.

Tạm dịch:

Lâu nay vẫn đám hồng trần,

Vàng còn chẳng biết, biết chân tâm nào!

Xin cho trỏ bảo làm sao?

Cho tìm thấy rõ kẻo nao lòng người.

Từ Trí Huyền cũng đọc một câu kệ đáp lại rằng:

Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

Cá trung mãn mục lộ thiên tâm

Hà sa cảnh thị Bồ Đề đạo

Nghỉ hưởng Bồ Đề cách vạn tầm.

Tạm dịch

Năm âm bí quyết là vàng,

Trông ra đầy mắt rõ ràng thuyền tâm.

Bồ đề đạo phật u thâm,

Muốn tìm tới đó muôn tầm chẳng xa!

Đạo Hạnh thấy câu kệ như vậy, chưa hiểu ý tứ ra làm sao, mới đến hỏi ông Pháp Phạm Sùng Vân rằng:

Thưa ông thế nào gọi là chân tâm?

Sùng Vân nói:

Cái gì chẳng phải là chân tâm?

Đạo Hạnh bấy giờ mới tỉnh ngộ, lạy từ Sùng Vân rồi trở về. Từ bấy giờ pháp lực lại càng tấn tới, nội là rắn độc trong núi, hùm dữ trên rừng, cũng có phép sai khiến được cả.

Trả nghiệp sát sinh trừ yêu đạo – Luân hồi chuyển kiếp báo đền ân

Bấy giờ vua Lý Nhân Tôn chưa có con, có người ở Thanh Hóa ra tâu rằng:

Ở ngoài bãi bể, có đứa con trai lên 3 tuổi, tự xưng là Hoàng tử, gọi là Giác Hoàng. Nhà vua có những sự gì, y cũng biết cả”.

Vua sai sứ đến xem tận nơi, quả nhiên có đứa trẻ ấy, mới đem về kinh, cho ở trong chùa Báo Thiên. Vua thấy đứa trẻ ấy thông minh thần dị lắm, muốn nuôi làm con.

Các quan can rằng:

“Nó tuy linh dị, nhưng tất phải thác sinh vào trong cung cấm mới được”.

Vua nghe theo, cho lập đàn tế  bảy ngày bảy đêm, làm phép đầu thai.

Đạo Hạnh biết chuyện, bảo riêng với chị rằng:

“Đây tất là Đại Điên, muốn đầu sinh vào cửa nhà vua để báo thù đây, kẻ kia dùng tà thuật, làm hoặc người ta đã nhiều, tôi sao nỡ ngồi nhìn mà không cứu, để nó làm càn hay sao?

Mới bảo chị ăn mặc giả nhà sư, cầm giấu quả ấn pháp sư, giắt lên mái nhà chỗ đàn chay. Cúng được ba hôm, Giác Hoàng phải bệnh, bảo với người ta rằng:

Khắp cả biên cương, núi sông, chỗ nào cũng chăng lưới sắt, không có đường nào mà đầu thai được”.

Nói xong thì mất. Vua sai tìm các nơi có bùa bèn gì không, thì bắt được mấy quả ấn kết lại, có tên Từ Đạo Hạnh. Vua giận lắm, sai bắt Đạo Hạnh vào lầu Hưng Khánh đánh trượng, rồi hội các quan lại nghị án.

Xảy có Sùng Hiền hầu đi qua, Đạo Hạnh kêu rằng:

Xin ngài rủ lòng thương mà cứu cho tôi, tôi sẽ xin đầu thai vào cung để báo ơn ấy”.

Sùng hiền hầu gật đầu. Đến lúc hội nghị, Kim hầu xin đem Đạo Hạnh chính pháp. Sùng Hiền hầu cười nói rằng:

Giác Hoàng nếu có thần lực, thì dù Từ Lộ giải chú thế nào cũng không việc gì. Nay vì thế mà phải chết, thì Giác Hoàng còn kém Từ Lộ xa lắm. Tôi thiết tưởng bắt tội hắn, thà rằng cho hắn thác sinh còn hơn, xin bệ hạ nghĩ cho”.

Vua cho là phải, lệnh tha tội cho Đạo Hạnh.

Đạo Hạnh trở ra, đi thẳng vào phủ Sùng Hiền hầu, nhân thấy phu nhân đang tắm, đến sát tận nơi đứng xem. Phu nhân giận lắm, bỗng thấy một đứa trẻ con chạy vào trong thùng tắm, phu nhân kinh hãi, kể chuyện ấy với chồng. Sùng Hiền hầu đã biết trước, không trách hỏi gì. Từ đấy phu nhân có mang.

Đạo Hạnh dặn Sùng Hiền hầu rằng:

Khi nào phu nhân sắp ở cữ, thì phải bảo cho tôi biết trước”.

Đến ngày phu nhân trở dạ, nhưng lâu mà chưa sinh được, Sùng Hiền hầu sai người ruổi mau đến báo Đạo Hạnh.

Đạo Hạnh vội vàng tắm gội thay áo, dặn học trò rằng:

Nghiệp duyên của ta còn chưa dứt, nay lại thác sinh vào cửa đế xương, tạm làm thiên tử 23 năm. Nếu khi nào thân kiếp sau ta thác đi, thì mới thực là chìm vào bể sâu, không bao giờ sinh diệt được nữa”.

Học trò nghe câu ấy, ai nấy cùng rỏ nước mắt. Đạo Hạnh mới an ủi học trò vài câu, rồi lột xác ra mà hóa. Thân xác của Đạo Hạnh vẫn nguyên không hủy, người làng lấy làm lạ, để cái xác ấy vào trong khám phụng thờ.

Thân xác ông vẫn nguyên vẹn mãi đến lúc nhà Minh sang cướp nước, quân giặc mang ra đốt mất. Về sau vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân xâm lược, dân tại đây nhớ công đức, lại góp công tô tượng mang thờ phụng như xưa.

Giờ ngọ Đạo Hạnh nhập tịch, đến giờ mùi thì phu nhân sinh ra đứa con trai, đặt tên là Dương Hoán, bấy giờ là tháng 6 năm Bính thân niên hiệu Hội Trường Đại Khánh thứ 7 (năm 1116).

Dương Hoán lên 2 tuổi, thông minh lắm, vua yêu mến nuôi ở trong cung cho làm con, rồi lập lên làm Hoàng thái tử. Khi vua mất, thái tử lên ngôi, tức là vua Thần Tôn, đó là kiếp sau ông Từ Đạo Hạnh.

Vua mắc bệnh hóa hổ – Minh Không hiển lộ thần thông

Việc chữa căn bệnh “hóa hổ” lạ lùng của vua Lý Thần Tông của sư Minh Không đến nay vẫn là câu chuyện mang đậm chất huyền thoại và gây ra nhiều tranh cãi.

Một truyền thuyết nói rằng, khi Minh Không và Từ Đạo Hạnh học đạo từ Tây Thiên trở về, giữa đường, Đạo Hạnh muốn thử tài của Minh Không liền vượt trước, hóa thành một con hổ phục trong bụi, rồi chồm ra dọa Minh Không. Minh Không đã biết trước, cứ ung dung nói với con hổ: “Đạo huynh đấy à? Tưởng đạo huynh làm gì ích lợi cho đời, lại đi làm thú dữ hại người đấy ư? Đạo huynh muốn thế, kiếp sau sẽ được làm mà…” Từ Đạo Hạnh biết mình còn kém Nguyễn Minh Không, hiện lại nguyên hình, lạy tạ và khẩn khoản nói: “Ngu đệ không tự biết mình, trót làm điều xúc phạm, xin đạo huynh tha thứ. Quả báo sau này có sa vào nghiệp chướng ấy, xin đạo huynh ra tay cứu giúp”. Quả báo mà Từ Đạo Hạnh nói đến sau này chính là việc ông phải đầu thai chuyển kiếp thành vua Lý Thần Tông và mắc phải căn bệnh “hóa hổ” kỳ lạ mà không danh ý nào có thể chữa được.

Tuy nhiên, nhiều người cũng nói rằng, chính sự nhầm lẫn giữa sư Không Lộ và Minh Không đã dẫn đến câu chuyện nói trên. Người bị Đạo Hạnh hóa thành hổ dọa trên đường từ Thiên Trúc trở về chính là Giác Hải và Không Lộ.

Chuyện kể rằng, khi ba người ngồi thuyền đến Thiên Trúc, Từ Đạo Hạnh ở lại giữ thuyền còn Giác Hải và Không Lộ lên bờ học phép. Sau khi học được phép thiêng, Giác Hải và Không Lộ đã bỏ về trước. Từ Đạo Hạnh ngồi giữ thuyền 3 ngày mà không thấy tin tức của 2 bạn đồng hành đâu, đúng lúc đó bỗng thấy một cụ già đi đến. Từ Đạo Hạnh vái chào rồi hỏi: “Cụ có thấy 2 người lên học đạo đó không? Cụ già nói: “Hai người đó đã học được phép thiêng của Ta và đã trở về nước rồi”.

Từ Đạo Hạnh bèn vái lậy và kể rõ cho bạ cụ biết mọi chuyện, cụ già nghe nói bèn sai Từ Đạo Hạnh gánh 2 thùng nước về nhà rồi dạy cho mọi phép thiêng cùng phép rút đất chân truyền Đà-la-ni. Sau khi học xong phép thiêng, Từ Đạo Hạnh tự hiềm vì 2 người bạn đã thất ước, bèn đọc thần chú khiến 2 người bạn đang đi đường đau bụng quá phải ngồi nghỉ. Sau đó, Đạo Hạnh lại dùng phép rút đất vượt lên phía trước, rồi hóa thành một con hổ núp trong bụi rậm đợi Giác Hải và Không Lộ đi qua mới nhảy ra dọa. Sau đó, chính Đạo Hạnh đã nhờ Giác Hải và Không Lộ cứu mình tránh khỏi nghiệp chướng sau này.

Không Lộ lúc ấy mới nói với Từ Đạo Hạnh rằng: “Chúng tôi bây giờ đã lớn tuổi, xin trông cậy cả vào Minh Không”. Chính vì vậy, về sau này, khi sắp viên tịch, biết mình sẽ hóa thân làm con hóa thân Lý Thần Tông sau này, Từ Đạo Hạnh mới cho gọi Minh Không đến mà dặn rằng: “Ta nay sắp xuất thế, ở cái địa vị làm thầy người ta, bệnh trái kiếp sau quyết là khó tránh nổi. Ta với người có duyên, nên cứu giúp nhau”. Nói xong, đưa cho Minh Không một gói thuốc đã được niệm chú dặn rằng: 20 năm sau, nếu nghe quốc vương bị bệnh thì lập tức đến chữa trị ngay.

Dẫu Minh Không là bạn hay là học trò của Từ Đạo Hạnh, thì có một điều chắc chắn rằng, người chữa căn bệnh “hóa hổ” kỳ lạ của vua Lý Thần Tông chỉ có một mình Minh Không. Chuyện kể rằng, Từ Đạo Hạnh sau khi viên tịch đã đầu thai làm con của Sùng Hiền hầu, em ruột vua Lý Nhân Tông, được đặt tên là Dương Hoán. Khi Lý Nhân Tông qua đời, Dương Hoán được chọn làm con người kế vị, tức vua Lý Thần Tông.

Lên ngôi không được bao lâu, tháng 3 năm 1136 vua Lý Thần Tông bệnh nặng, lông lá mọc khắp cơ thể, gầm thét như hổ suốt ngày. Các danh y tài giỏi từ khắp nơi trong cả nước được mời đến chữa bệnh nhưng bệnh của vua không thuyên giảm. Triều đình phái sứ giả đi khắp nơi tìm người có thể chữa bệnh cho đức vua. Khi sứ giả đến vùng núi Tử Trầm, nơi Minh Không trụ trì, thấy trẻ con hát câu đồng dao: “Tập tầm vông, có Nguyễn Minh Không chữa được mình rồng thiên tử…” Sứ giả thấy lạ liền hỏi thăm và tìm được Nguyễn Minh Không, mời ông vào triều chữa bệnh cho vua.

Minh Không thấy sứ giả đến, trong thuyền có rất nhiều lính chèo thuyền, muốn dọn cơm chay cho ăn, bèn lấy một cái niêu nhỏ đem cho họ cùng ăn, bảo họ rằng: “Anh em đông quá sợ không đủ no bụng, tạm ăn vậy”. Thế mà bọn lính chèo thuyền hơn một trăm người cùng ăn cũng không sao hết được niêu cơm. Khi bọn lính ăn xong, Minh Không lại bảo: “Anh em hãy tạm ngủ say một lát nữa đợi nước triều lên ta hãy bắt đầu ra đi”. Bọn lính đồng ý, đều nằm ngủ say ở trên thuyền. Mới trong khoảnh khắc, thuyền đã trở về tới kinh đô, bọn lính bơi chèo tỉnh dậy đều lấy làm lạ, phục tài của thiền sư Minh Không.

Khi sư Minh Không đến, thấy nhiều pháp sư khác cũng đang ở trên điện làm phép chữa bệnh cho vua. Họ thấy Minh Không ăn mặc quê mùa nên khinh thường không thèm chào hỏi. Sư Minh Không thấy vậy, lấy từ trong túi một chiếc đinh lớn, dài hơn 5 tấc rồi đóng sâu vào cột, sau đó lên tiếng hỏi: “Ai có thể nhổ cái đinh đó ra thì hãy nói chuyện chữa bệnh”. Minh Không nói thế ba lần nhưng chẳng vị pháp sư nào dám làm. Thấy vậy, Minh Không ung dung bước lại gần, lấy hai ngón tay trái, cầm vào rồi nhẹ nhàng rút ra. Mọi người chứng kiến đều khiếp phục sức mạnh phi thường của Minh Không nên nhường ông vào chữa bệnh cho vua.

Chuyện kể rằng, khi được đưa vào gặp vua Lý Thần Tông, Minh Không lớn tiếng hỏi: “Kẻ đại trượng phu được tôn lên ngôi thiên tử, giàu có khắp bốn bể, cớ sao còn phát bệnh cuồng loạn như vậy?” Vua nghe thấy vậy, rất run sợ, không dám kêu gầm nữa. Minh Không lại sai người lấy một vạc lớn đựng nước nấu sôi tới cả trăm lần. Minh Không dùng tay không quấy lên khoảng bốn lần, rồi tắm vua trong đó. Ngay sau đó, bệnh của vua đã bớt ngay. Ít lâu sau thì vua khỏi hẳn. Sau khi khỏi bệnh, cảm phục tài năng của Minh Không và cũng là để cảm tạ ơn cứu mạng của ông, vua Lý Thần Tông phong cho Minh Không là Quốc sư, được đổi từ họ Nguyễn sang họ Lý của vua, cấp cho nhà ở, ban lộc mấy trăm hộ và được miễn thuế má. Vì vậy, sau này người ta mới gọi sư Minh Không là Lý Quốc sư, ý chỉ vị Quốc sư họ Lý.

Không chỉ nổi tiếng vì đã chữa bệnh cho vua, thiền sư Minh Không còn là người có công xây dựng rất nhiều ngôi chùa trên nước Đại Việt. Sử chép rằng, sau khi tu hành đắc đạo, sư Minh Không trở về quê nhà ở Ninh Bình, dựng chùa Viên Quang, sau đó lại lập nhiều chùa ở Phả Lại (Bắc Ninh), Giao Thủy (Nam Định), Vũ Thư (Thái Bình)… để tu hành. Trong suốt cuộc đời, Nguyễn Minh Không đã dựng tới 500 ngôi chùa trên đất Đại Việt. Ông qua đời vào năm 1141, niên hiệu Thái Bình thứ 22, thọ 76 tuổi.

 

x