• TINHHOANET

Bổ sung dinh dưỡng có thể làm chậm tiến trình bệnh Huntington

Huntington-Disease605

Trong một thí nghiệm lâm sàng, việc sử dụng phương pháp cung cấp creatine cho thấy việc làm chậm tiến triển bệnh bằng cách khắc phục hiện tượng teo não các vùng trong tiến trình phát sinh tiền triệu chứng của bệnh Huntington. Bản chụp MR não trên cho thấy sự teo vùng vỏ não tổng quát của bệnh nhân mắc bệnh HD.( Ảnh của Wikimedia commons)

Thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về một loại thuốc dùng để trì hoãn sự khởi phát của bệnh Huntington (HD) đã cho thấy việc điều trị liều cao kết hợp với bổ sung chất Creatine là an toàn và dung nạp tốt đối với đa số người tham gia thử nghiệm. Bên cạnh đó, chẩn đoán hình ảnh cũng cho thấy phương pháp điều trị hỗ trợ đã hạn chế sự phát triển của vùng não bị teo, đây là một bằng chứng cho thấy Creatine có thể làm chậm sự tiến triển ở vào giai đoạn tiền triệu chứng của HD.

shutterstock_173604599-creatine-474x450

Cấu trúc hóa học Creatine ( ảnh Shutterstock )

Phòng nghiên cứu của bệnh viện Đa khoa Massachusetts cũng áp dụng một mô hình mới cho phép những người tham gia vào cuộc thử nghiệm – tất cả những người này đều có nguy cơ di truyền về các rối loạn thoái hóa thần kinh – ghi danh mà không cần kiểm tra xem họ có mang gene đột biến gây ra HD  hay không.

“Hơn 90% những người Mỹ biết được mình có nguy cơ bị HD qua tiền sử gia đình đều từ chối thử nghiệm gene, nguyên nhân thường xuất phát từ việc sợ bị phân biệt đối xử hoặc không muốn đối mặt với sự căng thẳng và lo âu khi biết trước số phận của họ sẽ bị hủy hoại bởi một căn bệnh như vậy,” dẫn từ cô H. Diana Rosas đến từ khoa Thoái hóa Thần kinh thuộc bệnh viện Đa Khoa Massachusetts – cũng là tác giả chính của bài viết liên quan tới Thần kinh học sẽ được xuất bản vào ngày 11 tháng 3 tới đây, và đã được phát hành trực tuyến. “Nhiều người trong số họ vẫn muốn giúp tìm ra phương pháp điều trị, vậy nên mô hình thử nghiệm này cho phép họ tham gia trong khi quyền tự do cá nhân vẫn được tôn trọng, họ có quyền không biết thông tin di truyền của riêng mình. ”

Một trong những cách thức mà cấu trúc đột biến của protein huntington gây thiệt hại cho các tế bào não đó là bằng cách can thiệp vào quá trình sản xuất năng lượng tế bào, dẫn tới sự suy giảm adenosine triphosphate (ATP) – những phân tử tạo ra năng lượng cho phần lớn các quá trình sinh học. Được biết đến với tác dụng giúp khôi phục các ATP và duy trì năng lượng cho tế bào, creatine đang được nghiên cứu để điều trị một số bệnh thần kinh – bao gồm bệnh Parkinson, bệnh xơ cứng cột bên teo cơ và tổn thương tủy sống. Các nghiên cứu về HD ở loài chuột cho thấy creatine làm tăng số lượng ATP ở não và bảo vệ chống thoái hóa thần kinh. Thử nghiệm lâm sàng trước đó của creatine trên các bệnh nhân có triệu chứng bệnh Huntington đã bị hạn chế về mặt quy mô khi chỉ đưa vào liều lượng hàng ngày là 10 gram hoặc ít hơn, và đã không đưa ra được bằng chứng về hiệu quả tiềm năng. Dựa trên các kết quả thu được từ một nghiên cứu thí điểm tại Bệnh viện Đa Khoa Massachusetts, liều lượng được ước tính sẽ lên tới 40 gram, trong khi hiện thời những người tham gia vào cuộc nghiên cứu chỉ tiếp nhận một liều lượng 30 gram mỗi ngày.

 

56199243341875707

 

Thử nghiệm PRECREST giai đoạn 2 được thực hiện trên 64 người trưởng thành – 19 người trong số này đã biết rõ họ mang gene đột biến của HD, 45 người còn lại có 50% nguy cơ mắc gien đột biến trên do tính di truyền. Các kết quả thu được không được tiết lộ với nhân viên hay người tham gia thử nghiệm mà chỉ dành cho các nhà thống kê nghiên cứu. Thử nghiệm gene lần này đã khẳng định một lần nữa tình trạng gene  của những người từng tham gia trước đó và còn tiết lộ thêm 26 người đang ở vào giai đoạn tiền triệu chứng của HD, trên tổng số 47 người mắc và 17 người bình thường làm đối chứng..

Trong sáu tháng đầu thử nghiệm, những người tham gia được chia thành hai nhóm ngẫu nhiên bất kể tình trạng gene của họ ra sao. Một nhóm nhận được 2 liều creatine mỗi ngày, và tối đa là 30 gram/ngày; nhóm còn lại sử dụng giả dược. Sau giai đoạn đầu tiên này, tất cả những người tham gia tiếp tục nhận thêm creatine trong vòng 12 tháng. Những người tham gia được thăm khám đều đặn qua các buổi nghiên cứu về tác dụng phụ, sau đó tần suất và liều dùng sẽ được điều chỉnh trong trường hợp cần thiết nhằm giảm bớt các tác dụng phụ gây khó chịu. Các xét nghiệm bổ sung như  đánh giá nhận thức, đo lường các dấu hiệu máu và quét não MRI cũng được thực hiện vào giai đoạn 6 tháng đầu cuộc thử nghiệm và vào giai đoạn kết thúc nghiên cứu.

Trong suốt giai đoạn đầu của cuộc thử nghiệm, hơn ¾  số người ngẫu nhiên đã sử dụng creatine với liều lượng mỗi ngày 15 gram hoặc hơn, và hơn 2/3 số người đã sử dụng đủ 30 gram liều lượng. Qua toàn bộ cuộc thử nghiệm, đã có tổng số 15 người – bao gồm một số người đã biết mình mang gene đột biến HD – đã ngưng sử dụng Creatine vì sự khó chịu ở đường tiêu hóa, vì mùi vị của thuốc, vì thấy bất tiện, hoặc cảm giác căng thẳng khi thường xuyên bị nhắc đến nguy cơ mắc bệnh Huntington. Ngoài chứng tiêu chảy thường xuyên và buồn nôn thì ít có tác dụng phụ nào liên quan tới creatine.

Đối với những người tham gia mà có chứa gene đột biến HD, quét MRI ngay từ ban đầu đã cho thấy sự hao mòn đáng kể trong khu vực của vỏ não, đồng thời căn bệnh này cũng được cho là gây ảnh hưởng tới hạch nền. Quét MRI trong sáu tháng tiếp theo cho ra một tỉ lệ hao mòn thấp hơn ở những người sử dụng creatine so với nhóm dùng giả dược. Vào cuối giai đoạn thứ hai, tỉ lệ teo não cũng giảm xuống ở những người tiền triệu chứng mà bắt đầu sử dụng Creatine sau sáu tháng dùng giả được.

Bên cạnh việc chứng minh rằng Creatine có thể làm chậm quá trình gây bệnh Huntington, các kết quả trên cũng chỉ ra rằng chẩn đoán hình ảnh có thể cung cấp một dấu ấn sinh học hữu ích về sự suy chuyển bệnh cho các nghiên cứu về phương pháp điều trị tiềm năng khác.  Các tác giả ghi chú rằng, dựa trên các bài kiểm tra nhận thức được thực hiện từ khởi đầu cuộc nghiên cứu, mặc dù những người có chứa gene đột biến đã thể hiện không tốt bằng những người bình thường, tuy nhiên liệu pháp Creatine không cho ra hiệu quả rõ rệt dựa trên những đo đạc này. Có khả năng nguyên nhân là vì các xét nghiệm không đủ tinh vi để nhận ra những thay đổi chi tiết xảy ra trong một giai đoạn ngắn như vậy.

“Các kết quả từ thử nghiệm này cho thấy việc phòng ngừa hay trì hoãn các triệu chứng bệnh Huntington là khả thi, cho phép những người có nguy cơ mắc bệnh tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng ngay cả khi họ không muốn biết tình trạng gene của mình. Đồng thời các dấu ấn sinh học hữu ích này có thể được phát triển nhằm mục đích hỗ trợ chi phí điều trị” – theo cựu tác giả Steven Hersch tại khoa Thoái hóa Thần kinh bệnh viện Đa Khoa Massachusetts – “Ngoài ra, chúng tôi tin rằng mô hình nghiên cứu này còn đặt ra một tiền lệ quan trọng cho các bệnh về gene khác và sẽ giúp hình thành các cuộc thảo luận về cách thức khiến việc nghiên cứu lâm sàng có thể cùng tồn tại với mối quan tâm sâu sắc về sự tôn trọng quyền tự chủ của bệnh nhân và việc bảo mật thông tin gene cá nhân.”

Ông Hersch – giáo sư về thần kinh học tại Trường Đại Học Y Harvard, cùng với phó giáo sư Rosas đang dẫn dắt một thử nghiệm mang tính toàn cầu giai đoạn 3 (CREST-E) về creatine liều cao ở các cá thể có triệu chứng sớm của bệnh Huntington. Công trình cũng nhận được sự hợp tác của Giovanni Schifitt của Đại học Rochester, thử nghiệm được tài trợ bởi Trung tâm Quốc gia khoa Y học Bổ trợ và Thay thế. Thông tin bổ sung cho thử nghiệm này vẫn còn hiện hành và trong giai đoạn tuyển sinh.

Theo By Sue McGreevey, Bệnh viện Đa Khoa Massachusetts, Các Vấn đề Cộng Đồng.

 Xem bản gốc tại:http://news.harvard.edu

Ghi chú :

(1) Bệnh Huntington : http://www.dieutri.vn/thankinh/25-4-2011/S158/Benh-Huntington.htm

(2) Creatine :  Creatine là một hợp chất tự nhiên tồn tại trong cơ thể của con người. Creatine bao gồm 3 loại axit amin: arginine, glycine và methionine. Chất này có tác dụng giúp cơ thể vận động một cách nhanh nhẹn, giúp cung cấp nâng lượng cho cơ hoạt động nhanh hơn.  Vận động của cơ bắp khởi điểm được cung cấp năng lượng bởi ATP. Creatine giúp tăng cường độ luyện tập và phục hồi sức khỏe, chất này có thể đi qua dạ dày và vào trong máu nguyên vẹn, trong quá trình đi vào cơ, nó sẽ được chuyển thành Creatine Phosphate – một chất hữu cơ có trong sợi cơ, đó là quá trình xúc tác để tạo ra ATP.

Link gốc: http://vietdaikynguyen.com/v3…

Theo Việt Đại Kỷ Nguyên

x