Cổ kim sử sách không thiếu mỹ nhân, những câu chuyện về họ là truyền kì lưu danh làm phong phú thêm hành trình lịch sử bi hùng của văn minh 5000 năm trên vùng đất Thần Châu xưa: “Ai kẻ trí, ai người khờ; cuối cùng cũng là mây khói bay”.

1. Tây Thi Trầm Ngư

Tay thi tranh co tong hop
Hình tượng Tây Thi trong các tác phẩm hội họa cổ đại.

Tây Thi là người Chiết Giang thời Xuân Thu, tên thật là Thi Di Quang, nhà ở thôn phía Tây nên được gọi là Tây Thi. Cách gọi này dùng để phân biệt với người con gái khác cũng họ Thi nhưng ở thôn phía Đông, tức Đông Thi, người được nhắc đến trong câu thành ngữ “Đông Thi hiệu tần”, ý chỉ việc Đông Thi bắt chước Tây Thi nhăn mặt, cau mày khiến dung mạo thành ra khó coi. Câu thành ngữ ngầm chỉ những người không biết phân biệt tốt xấu, cứ bắt chước làm theo một cách máy móc.

Để ví vẻ đẹp của Tây Thi, dân gian tương truyền rằng khi nàng giặt áo bên bờ sông, bóng soi mặt nước, cá dưới sông vì nhìn thấy vẻ đẹp bội phần này mà say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng nàng là “Tây Thi Trầm Ngư”.

Tây Thi xuất thân vốn chỉ là cô gái giặt lụa bên sông, nhưng Câu Tiễn vì mong muốn phục quốc nên đã tặng nàng cho Ngô vương Phù Sai. Có người cho rằng đây chính là trường hợp “mỹ nhân kế” đầu tiên được áp dụng.

Rất nhiều tác phẩm văn học viết về Tây Thi, trong đó có bài thơ “Ẩm hồ thượng sơ tình hậu vũ” của Tô Đông Pha. Trong bài thơ này, ông đã so sánh Tây hồ với Tây Thi, nói rằng trang mỹ nhân dù điểm phấn tô son ít hay nhiều đều đẹp như nhau; còn Tây hồ, dù trời nắng hay mưa phong cảnh vẫn làm say đắm lòng nguời.

“Dưới nắng long lanh màu nước biếc; 
Trong mưa huyền ảo vẻ non tươi.
Tây hồ khá sánh cùng Tây tử;
Nhạt phấn nồng son thảy tuyệt vời”.

(Bản dịch của Nam Trân, NXB Văn học, 1991)

2. Ban Chiêu

Ban Chiêu là mỹ nhân rất đặc biệt, bởi nàng nổi tiếng không chỉ vì sắc đẹp mà còn vì tài năng và trí tuệ. Nàng sinh ra trong một gia đình văn học, cha nàng là Ban Bưu, nhà văn nổi tiếng thời Đông Hán. Ban Chiêu còn có hai người anh trai là Ban Cố và Ban Siêu. Ban Cố là sử gia, Ban Siêu tham gia quân đội.

Thời trẻ, Ban Siêu làm công việc chép lại sách nhà Đường, nhưng công việc không phù hợp nên đâm chán nản mà ném bút nghiên ra trận. Ban Siêu trở thành tướng quân thời Đông Hán, sau được phong làm Định Viễn Hầu, cai trị vùng Tây Vực. Cũng từ điển cố này mà câu thành ngữ “Gác bút tòng quân” ra đời.

Về phần Ban Chiêu, khi người anh Ban Cố được 61 tuổi bị tống giam và chết trong ngục, cuốn Tiền Hán Thư ông đang viết vẫn còn dở dang, nàng liền thay anh viết tiếp cuốn sách này. Nó trở thành tác phẩm lịch sử thuộc hàng “nhị thập tứ sử” nổi tiếng của Trung Quốc, sánh ngang với bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên thời Tây Hán.

Ban Chiêu trở thành nữ sử gia duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời tên của nàng còn được đặt cho một miệng núi lửa trên sao Kim.

3. Chiêu Quân Lạc Nhạn

chieu quan tong hop tranh
Hình tượng Vương Chiêu Quân trong các tác phẩm hội họa cổ.

Vương Chiêu Quân sinh ra trong một gia đình gia giáo thời Tây Hán, dưới triều Hán Nguyên Đế và được chọn làm cung nữ ngay khi đến tuổi trường thành. Nàng phẩm hạnh thanh cao, vì không chịu đút lót cho họa sĩ thời đó là Mao Diên Thọ nên bị ông ta vẽ xấu. Từ đó, dẫu sắc nước hương trời nhưng bao năm liền trong cung, Chiêu Quân không hề được quân vương đoái hoài.

Lúc này, Thiền vu của Hung Nô phương Bắc đến Trung thổ muốn tỏ ý thần phục, bèn nắm lấy cơ hội bày tỏ nguyện vọng được trở thành con rể của Nguyên Đế. Tuy nhiên, lần này Hán Nguyên Đế lại muốn chọn cung nữ để gả cho ông ta, liền sai người truyền lệnh đến hậu cung: “Ai đồng ý hòa thân cùng Hung Nô, thì sẽ được sắc phong làm công chúa”.

Tuy nói là có thể một bước lên mây trở thành phượng hoàng, nhưng chẳng ai nguyện ý rời xa quê nhà mà gả đến một nơi đồng khô cỏ cháy, xa xôi lạnh lẽo, chung sống với dị tộc không cùng ngôn ngữ, văn hóa.

Thế nhưng Vương Chiêu Quân lại không nghĩ vậy, vì vận nước nàng tự nguyện gả đến Hung Nô.

Đến khi Chiêu Quân xuất giá, Hán Nguyên Đế mới phát hiện ra vẻ đẹp kiêu sa của nàng, lúc này thì mọi thứ đã muộn, Mao Diên Thọ bị xử trảm.

4. Đát Kỷ 

Đát Kỷ có lẽ là mỹ nhân xấu xa nhất trong lịch sử Trung Hoa, nàng là hoàng hậu của Trụ Vương, cuối triều nhà Thương.

Theo các ghi chép lịch sử, Trụ Vương vì mê đắm sắc đẹp của Đát Kỷ mà bỏ bê việc triều chính, cuối cùng khiến nhà Thương bị diệt vong.

Vào thời đó, để vui chơi cùng Đát Kỷ, Trụ Vương đã cho xây Nhục Lâm Tửu Trì, tức rừng thịt ao rượu, ăn chơi ngày đêm. Cũng vào thời kì này, các hình thức tra tấn man rợ như cho rắn độc cắn, đốt cháy da thịt bằng kim loại nung đỏ, … được nghĩ ra để áp dụng với những người can gián hoặc đối tượng bị hoàng hậu ganh ghét.

Trong tiểu thuyết Phong Thần diễn nghĩa, Đát Kỷ được cho là do con hồ ly chín đuôi biến hóa thành. Trung thần Tỷ Can chỉ vì đắc tội với Đát Kỷ mà bị bắt moi tim.

5. Điêu Thuyền

dieu thuyen tuyen tap tranh
Hình tượng Điêu Thuyền, Vương Doãn và điển cố Phụng Nghi Đình trên các tác phẩm hội họa và vật dụng.

Điêu Thuyền là nhân vật khá đặc biệt trong số các mỹ nhân Trung Hoa, bởi sự tồn tại của nàng vẫn còn là vấn đề gây hồ nghi trong giới sử gia. Tất cả họ đều cho rằng nàng là nhân vật không có thật mà chỉ được hư cấu trong văn học.

Điêu Thuyền xuất hiện trong thời Tam Quốc, là con nuôi của đại thần Vương Doãn. Khi nàng vừa tròn 16, Vương Doãn đương thời đang rất bất mãn với triều đình của Đổng Trác. Điêu Thuyền vì hiểu được nỗi lòng của cha nên đã nghĩ cách báo quốc, tìm kế ám sát Đổng Trác.

Trong Tam Quốc diễn nghĩa có câu: “Chư hầu 18 nước không giết được Đổng Trác, vậy mà chỉ 1 nàng Điêu Thuyền lại làm được”.

6. Ngu Cơ

Ngu Cơ sinh vào khoảng 230 TCN, là hồng nhan tri kỷ của Sở Bá Vương Hạng Vũ. Hình ảnh Ngu Cơ xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học, điện ảnh. Tuy nhiên trong các tài liệu lịch sử, người đẹp này lại rất ít khi được nhắc đến.

Theo sử sách, năm 202 TCN, Hạng Vũ bị quân Hán bao vây ở Cai Hạ, đang đêm Sở vương thức dậy, nghe quân Hán ở 4 mặt đều hát giọng Sở. Quân Sở nghe bài hát quê hương mà nhớ nhà, nhục chí bỏ trốn. Biết khó thoát, Hạng Vũ bèn ngồi bên Ngu Cơ hát bài “Cai Hạ ca”, lời ca bi thương thống thiết:

“Sức dời núi, khí trùm trời;

Ô Truy chùn bước bởi thời không may!

Ngựa sao chùn bước thế này?

Ngu Cơ, biết tính sao đây hỡi nàng?”

Hạng Vũ hát mấy lần, Ngu Cơ cầm kiếm múa hòa theo, đáp lời rằng:

“Quân Hán đã chiếm đất;

Khúc Sở vang bốn bề.

Trượng phu chí lớn cạn;

Tiện thiếp sống làm chi”.

Sau đó, nàng cầm kiếm tự sát, Sở Bá Vương phá vòng vây nhưng cùng đường cũng tự vẫn.

7. Dương Quý Phi

duong quy phi tong hop tranh
Hình tượng Dương Quý Phi trong các tác phẩm hội họa cổ.

Dương Quý Phi cùng Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền trở thành Tứ đại Mỹ nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, sắc đẹp của họ được mệnh danh là “chim sa cá lặng, nguyệt thẹn hoa thương”.

Dương Quý Phi trong chính sử có tên gọi là Dương Thái Chân hoặc Dương Ngọc Hoàn. Nàng trở thành quý phi của vua Đường Huyền Tông vào năm 26 tuổi.

Trong các bức chân dung cổ vẽ Dương Quý Phi, hình tượng của nàng thường có khuôn mặt bầu bĩnh, tay chân mũm mĩm. Điều này phần nào cho thấy tiêu chuẩn thẩm mỹ của người đời Đường. Họ thích phụ nữ đầy đặn và tròn trịa.

Bạch Cư Dị trong “Trường Hận Ca” đã miêu tả về Dương Quý Phi như sau:

“Hậu cung giai lệ tam thiên nhân;

Tam thiên sủng ái tại nhất thân”

Ý thơ rằng:

Hậu cung người đẹp có ba nghìn;

Ba nghìn yêu thương chỉ một nàng”.

Theo ghi chép chính sử, Dương Quý phi mất năm 37 tuổi trong biến loạn An Sử, nhưng cũng có giả thuyết cho rằng, Dương Quý phi không bị sát hại mà được tùy tùng giúp giả chết rồi trốn thoát đến Nhật Bản.

8. Trác Văn Quân

Trác Văn Quân là vợ của nhà văn nổi tiếng Tư Mã Tương Như thời nhà Hán. Câu chuyện tình của họ được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Văn Quân là con gái của Trác Vương Tôn, viên ngoại vùng Tứ Xuyên. Nàng có dung mạo diễm lệ, lại giỏi chơi đàn và làm thơ. Tuy nhiên, Trác Văn Quân khi mới 16 tuổi đã được gả chồng, vài năm sau lại trở thành góa phụ.

Một hôm Tư Mã Tương Như đến chơi nhà nàng, đã gảy khúc “Phụng Cầu Hoàng”, khiến người đẹp mê mẩn. Từ đó nàng quyết định đi theo Tương Như, đang đêm bỏ nhà theo đuổi tiếng gọi của tình yêu.

Hai người sau đó mở một quán rượu, sống rất vất vả. Tuy nhiên về sau, Tư Mã Tương Như được vua trọng dụng, làm đến chức Trung Lãng tướng. Khi làm quan xa nhà, cách mặt Văn Quân một thời gian, Tư Mã Tương Như có ý định lập thê thiếp mới, bèn gửi cho Văn Quân đôi dòng ngắn ngủi: “Một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười trăm nghìn vạn”, ẩn ý rằng ta đây không còn nghĩ gì tới nàng nữa.

Tuy nhiên, Văn Quân đã gửi lại lá thư với dòng tâm tư rất thú vị:

“Sau khi một biệt, lòng gởi hai nơi,
Chỉ hẹn rằng ba bốn tháng,
Nào ngờ lại năm sáu năm,
Bảy dây trống trải đàn cầm,
Tám hàng thư không thể gởi,
Chín mối bội hoàn dang dở,
Mười dặm trường đình mỏi mắt ngóng trông,
Trăm tương tư, ngàn dằn vặt, muôn chung nào nỡ oán chàng.
Vạn lời ngàn tiếng nói sao đang,
Trăm cô liêu tựa mười hiên vắng,
Mùng chín tháng chín lên cao trông lẻ nhạn,
Tháng tám trung thu tròn trăng chẳng thấy người,
Tháng bảy nửa vầng hương cầm đuốc hỏi ông trời,
Tháng sáu phục hiên ai ai lay quạt lạnh lòng ai,
Tháng năm lửa lựu lập loè sầm sập mưa dầm hoa tả tơi,
Tháng tư tỳ bà lạnh vắng người toan soi gương tâm ý loạn,
Chợt hối hả tháng ba hoa đào theo nước trôi,
Tháng hai gió gảy tiếng rã rời.
Ôi chàng, chàng ơi,
Nguyện cho được sau một kiếp,
Chàng thành nhi nữ để thiếp làm phận trai”

Sau khi đọc thơ của Văn Quân, với cách dùng từ khéo léo, tận dụng câu chữ trong bức thư mình gửi, Tư Mã Tương Như lấy làm xấu hổ từ bỏ ý định lập thiếp.

9. Triệu Phi Yến 

trieu phi yen tong hop tranh
Hình tượng Triệu Phi Yến trong các tác phẩm hội họa cổ, cùng tranh vẽ điển cố Xuân dạ yến đào lý viên liên quan đến nhà thơ Lý Bạch.

Nhắc đến Dương Quý phi, không thể không nói đến Triệu Phi Yến. Bởi trong văn học, nàng chính là người thường được đem ra so sánh với người đẹp họ Dương với câu thành ngữ “Hoàn phì Yến sấu”, tức Ngọc Hoàn thì tròn trịa, Phi Yến lại gầy guộc mảnh mai.

Triệu Phi Yến là người triều Hán, sống trước thời của Dương Quý phi, nổi tiếng với tài ca múa. Ca khúc trong cung nhà Hán miêu tả khả năng múa hát điêu luyện của Triệu Phi Yến với câu “nhảy múa trên lòng bàn tay” (chưởng thượng vũ).

Lý Bạch trong “Thanh bình điệu” đã mượn Triệu Phi Yến để ca ngợi Dương Quý Phi:

“Tá vấn Hán cung thuỳ đắc tự;

Khả liên Phi Yến ỷ tân trang”.

Dịch thơ:

“Hỏi ai cung Hán mà hơn được;

Phi Yến e còn phải điểm trang”.

Ý rằng Dương Quý phi sở hữu vẻ đẹp tự nhiên, Phi Yến cần phải trang điểm mà chưa biết có thể sánh bằng không.

Cũng chính vì “Thanh bình điệu” này mà Lý Bạch, thi sĩ “điên” được hoàng đế thán phục nhưng rồi vướng phải dèm pha thị phi chốn hậu cung mà quan trường lận đận.

Mặc dù từ một vũ công trở thành hoàng hậu, thậm chí là hoàng thái hậu, nhưng cũng vì tranh giành chốn hậu cung mà Triệu Phi Yến bị buộc tự sát. Em gái của nàng là Triệu Hợp Đức cũng cùng chung cảnh ngộ.

10. Đại Kiều và Tiểu Kiều

Nhị Kiều là con gái của Kiều Hoàn Công ở Lư Giang, thời Tam Quốc. Đại Kiều là vợ của Tôn Sách, còn Nhị Kiều kết hôn với Chu Du.

Đại Kiều được mô tả là người con gái nhu mì, đẹp trầm lặng, đôi mắt diễm lệ nhưng đa sầu, tính cách hiền hậu, nhút nhát, sống nội tâm và tình cảm, nàng thích công việc nữ công gia chánh, thêu thùa, nấu ăn, chăm sóc hoa lá.

Tiểu Kiều dung mạo xinh đẹp, thông minh, thích đọc sách, đánh đàn, ngắm hoa và làm thơ. Cả 2 đều là tài nữ đương thời.

***

10 mỹ nhân 10 câu chuyện, người lưu tiếng thơm, kẻ để lại vết nhơ, âu cũng là bài học lưu truyền hậu thế, nhìn vào để soi chỉnh lại bản thân vậy.

Theo Góc nhìn Trung Quốc/NTDTV

Danh Mục : Bocau Radio