• TINHHOANET

Kỵ binh Cataphract – ‘cỗ xe tăng’ gây kinh hoàng thời cổ đại

Với bộ giáp nặng nề bọc kín thân, kỵ binh Cataphract được ví như những “cỗ xe tăng” thời cổ đại, mạnh mẽ không gì cản nổi và là nỗi ác mộng của 10.000 người La Mã sống sót sau thảm kịch tại Carrhae.

Mọi người đều biết rằng, kỵ binh được chia làm 2 loại: kỵ binh nặng và kỵ binh nhẹ. “Nặng” và “nhẹ” là khái niệm dùng để chỉ lượng trang bị mà một kỵ binh mang theo, bao gồm áo giáp, vũ khí, mũ mão, áo choàng sắt cho ngựa.

photo

Riêng với Cataphract, lượng trang bị mà họ mang nhiều hơn quá mức so với một kỵ binh nặng thông thường. Vì thế, người ta gọi Cataphract là kỵ binh siêu nặng.

Cataphract

Các học giả sau này đều viết về Cataphract như thể đó là một tuyệt tác của thế giới cổ đại. Sallust (86 – 34TCN) nói “Bộ mặt của kỵ binh Cataphract chính là sắt” trong khi Ammianus Marcellinus (mất năm 350) lại cho rằng: “Những vòng tròn thép bọc vòng quanh cơ thể hoàn toàn che kín dù là bó cơ nhỏ nhất của chiến binh”.

elite__byzantine_cataphract_by_dmavromatis-d36vs3j

Ammanius ca ngợi các kỵ binh Cataphract như là “những bức tượng được làm dưới bàn tay Praxiteles” (nhà điêu khắc thiên tài thời cổ đại), khiến đối thủ của họ phải khiếp sợ ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Hoàng đế La Mã Aurelian lần đầu nhìn thấy các kỵ binh của Đế chế Palmyrene trong trận Emesa năm 270 đã phải thốt lên: “Họ quá tự tin vào những bộ giáp, nhưng quả thực chúng thật sự chắc chắn và an toàn”. Nhiều tài liệu cho biết, dưới những lớp giáp sắt, các kỵ binh còn mặc thêm giáp làm bằng da thú hoặc hợp kim đồng.

Bản thân từ Cataphract trong tiếng Hy Lạp không có nghĩa mô tả lượng áo giáp khổng lồ mà một chiến binh phải mang theo, tuy nhiên sau này nó đã dần biến thể theo chính danh từ mà nó mô tả. Đến bây giờ trong tiếng Anh, Cataphract vừa có thể là tính từ (bọc kín trong giáp sắt) vừa có thể là danh từ (siêu giáp trọng kỵ).

e014a

Nếu như các kỵ binh Hetairoi (kỵ binh dưới thời Alexander Đại đế) thường được trang bị áo giáp ngực thì Cataphract lại vận giáp kín người bao gồm: mặt nạ, bọc tay, bọc chân và toàn bộ những phần cơ thể còn lại. Chưa kể có vậy, ngay cả những chú ngựa cũng được bọc trong những bộ giáp dày và nặng nề.

Làm sao một con người cũng như một chú ngựa có thể mang trên mình một khối lượng giáp khổng lồ mà không thấy mệt? Dĩ nhiên là họ sẽ rất nhanh mệt, nhưng theo sử gia Heliodorus, các kỵ binh Cataphract đều được tuyển chọn kỹ càng – đó phải là những người có ngoại hình cùng kích thước cơ thể vượt trội.

Cả những chiến mã cũng phải trải qua vòng tuyển chọn gắt gao. Sử sách ghi, chỉ có giống ngựa Nisean là thích hợp để làm vật cưỡi cho các kỵ binh Cataphract.

Đây là giống ngựa có nguồn gốc từ vùng cao nguyên Nisean (Iran ngày nay), sở hữu kích thước và sức chở vượt xa các giống ngựa bình thường.

Người La Mã từng vô cùng ấn tượng trước sức khỏe phi thường và độ lì lợm của giống ngựa này khi chạm trán với Đế quốc Parthia. Người ta tin rằng Bucephalus – con vật cưỡi huyền thoại của Alexander Đại đế chính là một chú ngựa Nisean.

cataphract (1)

Giống ngựa Nisean thời đó quý và quan trọng đến mức nó là một trong những nguyên nhân chính của các cuộc chiến tranh giữa nhiều quốc gia quanh khu vực Iran ngày nay.

Không chỉ sở hữu bộ giáp sắt mạnh mẽ, các Cataphract còn là bậc thầy trong việc sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau, bao gồm cung tên, chùy, giáo, gươm… Tuy nhiên vũ khí thông dụng nhất của họ là một ngọn thương dài 3,6 đến 4 m gọi là Kontos.

Các Cataphract thời kỳ đầu không sử dụng khiên vì lý do họ phải cầm Kontos bằng 2 tay. Với tốc độ của ngựa cùng trọng lượng siêu “khủng”, các Cataphract lao tới đối phương, xuyên thủng hàng phòng ngự bằng trường thương Kontos.

12

Theo sử gia Plutarch, ngọn thương của các Cataphract có thể đâm xuyên 2 người mặc giáp cùng lúc. Đó quả là một cỗ xe ủi đúng nghĩa trên chiến trường cổ đại.

Tuy nhiên không có gì là hoàn hảo và các Cataphract cũng vậy. Sự nặng nề của bộ giáp khiến cho việc xoay trở vô cùng khó khăn. Do vậy, kỵ binh Cataphract chậm chạp hơn nhiều lần so với các kỵ binh khác. Nhất là vào thời cổ đại, khi bàn đạp trên ngựa chưa được phát minh, việc điều khiển được những chú ngựa Nisean siêu khỏe càng trở nên khó khăn hơn.

Sử sách không ghi nhiều về những thất bại của Cataphract nhưng chúng ta cũng có thể hình dung, nếu bị ngã ngựa thì các Cataphract chưa chắc đã đứng dậy nổi. Sử gia Heliodorus mô tả Cataphract khi không cưỡi ngựa trông giống như những thanh gỗ nằm dưới đất vậy.

Cataphract xuất hiện lần đầu trong trận Panion năm 200 TCN khi đế chế Seleucid đối đầu với vương quốc Ptolemaic.

Được trang bị tới “tận răng” như vậy nhưng trong thời kỳ đầu, những ghi chép về Cataphract cho thấy họ toàn thua chứ ít khi nào thắng.

Tại Magnesia, Vua Seleucid đã mang 3.000 Cataphract cùng 1.000 kỵ binh cận vệ Agema vào chiến trường. Tuy nhiên Seleucid đã thất bại thảm hại trước kỵ binh được trang bị giáp nhẹ có bộ binh hỗ trợ của người La Mã.

Phải đến năm 53 TCN, người ta mới biết đến sức mạnh kinh hồn của các Cataphract.

Khoảng 1.000 Cataphract và 9.000 xạ kỵ của Đế chế Parthia dưới sự chỉ huy thiên tài của Surena đã đánh tan 40.000 quân La Mã dưới sự chỉ huy của Marcus Linus Crassus.

Trong trận chiến kinh điển này, Surena đã sử dụng chiến thuật luân phiên vô cùng sáng tạo: 9.000 xạ kỵ chạy vòng quanh và bắn tên vào quân La Mã. Điều này bắt buộc bộ binh La Mã phải lui về xếp đội hình mai rùa (testudo) để chống lại.

Sau khi họ đã xếp thành công testudo thì các Cataphract mới vào cuộc. Sự nặng nề của những cỗ xe tăng ‘người – ngựa’ và sức mạnh kinh hồn của ngọn trường thương Kontos đã phát huy tác dụng. Người La Mã khi thu về đội hình testudo thì không thể làm gì khi những cỗ xe ủi Parthia này lao vào người.

Vì thế, từng người từng người trong số các chiến binh La Mã trở thành mồi ngon cho Kontos. Những người sống sót sau trận chiến kể lại rằng, họ vẫn cảm thấy run rẩy mỗi khi nhớ lại tiếng rầm rập của vó ngựa Cataphract lúc đến gần, bởi họ không biết mình sẽ chết lúc nào..

Khi bộ binh La Mã trở lại đội hình bình thường để chặn bước tiến của các Cataphract thì đó cũng là lúc Surena phất cờ báo hiệu rút lui, để 9.000 xạ kỵ tiếp tục rót mưa tên vào quân La Mã.

Cứ như thế, khi quân La Mã xếp testudo, Cataphract sẽ lao vào còn khi họ xếp đội hình thông thường, xạ kỵ sẽ tiếp tục bắn.

Cuộc chiến kéo dài từ sáng đến tận chiều tối và gần như chỉ có một mình quân Parthia đánh còn quân La Mã phải oằn mình hứng chịu.

Surena thông minh tới mức đã chuẩn bị sẵn 5.000 con lạc đà chở mũi tên để cho các xạ kỵ thoải mái bắn. Crassus sau khi nhìn thấy 5.000 con lạc đà ở đằng xa đã gần như thất vọng tột cùng. Trước tình hình đó, Crassus đã chỉ huy các kỵ binh người Gaul vào trận.

Những kỵ binh này vốn rất tinh nhuệ, từng chiến đấu bên cạnh Caesar tại Alesia năm nào. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên họ phải giao chiến với những kẻ bọc giáp toàn thân như Cataphract.

Kết quả đã rõ, những ngọn giáo, lưỡi gươm của các kỵ binh Gaul không thể đả thương được Cataphract. Hoàn toàn vô vọng trong cả tấn công lẫn phòng thủ, quân đội La Mã của Crassus bị tiêu diệt gần hết. Sau trận chiến, đội quân của Surena chỉ thiệt hại vỏn vẹn hơn… 100 người; trong khi đó đội quân của Crassus đã mất tới 20.000 quân, 10.000 lính bị bắt sống và chỉ có 10.000 quân chạy thoát.

Lúc này người ta mới nhận ra người chỉ huy có tác dụng quan trọng như thế nào. Surena được tôn vinh như một người anh hùng, nhưng đó cũng chính là nguyên nhân khiến ông bị xử tử, khi bị nghi ngờ có âm mưu tạo phản ngay sau đó.

Vào năm 39 Hoàng tử Pacorus mang quân tấn công người La Mã và lần này, lực lượng Cataphract còn đông hơn trước. Tuy nhiên chiến dịch đã trở thành một thảm họa khi La Mã chiếm được cao điểm, trong khi Pacorus lại ra lệnh cho Cataphract phải tấn công lên… trên đồi.

Bắt những kỵ binh nặng hơn cả tê giác phải leo lên ngược dốc như vậy quả thực là ác mộng. Hệ quả là Pacorus bị giết khi giao tranh và quân Parthia thất bại thảm hại. Đồng thời điều đó cũng chứng minh được rằng, Cataphract không thể dùng làm lực lượng chính trong quân đội.

Cataphract có thể gây nên sự kinh hoàng, làm rối loạn đội hình đối phương và gây sát thương cực mạnh nhưng chỉ khi có sự hỗ trợ của các lực lượng lính khác.

Người La Mã không coi kỵ binh Macedonia – truyền nhân của Alexander Đại đế ra gì, nhưng họ lại luôn e dè sức mạnh của các Cataphract. Vào thế kỷ II, người La Mã đưa Cataphract vào trong quân đội như một phần không thể thiếu.

Đế chế Byzantine (Đông La Mã) xây dựng lực lượng Cataphract mang tên Athanatoi lên tới 10.000 người vào những năm thịnh vượng. Cataphract trên chiến trường vẫn luôn giữ được oai phong cùng sự mạnh mẽ và đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền quân sự của tất cả các nước thời Trung cổ.

Bức ảnh mô tả lại một kỵ binh bọc sắt của Đại Việt, tuy nhiên chỉ mang tính tham khảo và hình tượng.

Sự phát triển của kỵ binh siêu nặng Cataphract còn xuất hiện ở cả… Việt Nam. Cho đến giờ chưa một sử sách nào ghi lại tầm ảnh hưởng của Cataphract ở Iran lên Đại Việt cổ, tuy nhiên Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn chép: “Ngày 27 năm Quang Hưng thứ 14 (1591), hai bên quân Trịnh và quân Mạc đối mặt với nhau, lại chọn 400 thiết kỵ xông lên trợ chiến…

Ba ngày sau, Trịnh Tùng cho quân tiến đánh Thăng Long, nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân Mạc, sai Nguyễn Hữu Liêu đem 5.000 quân tinh nhuệ và voi khỏe cùng ngựa bọc sắt, đến giờ Dần, thẳng tiến đến đóng ở câu Cao tại góc Tây Bắc thành Thăng Long…”.

Không ai biết từ khi nào Cataphract dần biến mất khỏi chiến trường. Chỉ biết rằng với sự phát triển của súng ống và đại bác, những bộ giáp cực nặng trở thành gánh nặng và người ta đã thay thế các Cataphract bằng những kỵ binh “nhẹ” hơn. Sau này các đội kỵ binh thường chỉ mặc áo giáp ngực, có tên gọi là Cuirassier.

Dẫu vậy, sự tồn tại của Cataphract xuyên suốt ít nhất 22 thế kỷ (từ thế kỷ thứ VI TCN đến thế kỷ thứ XVI khi thuốc súng phát triển mạnh mẽ) đã đánh dấu vị trí lịch sử không thể lu mờ.

Những hình vẽ, những bức phù điêu về Cataphract vẫn luôn gợi cho người xem sự tò mò về một thời chiến tranh đẫm máu trong lịch sử, nơi mà ngọn trường thương Kontos đã trở thành nỗi ác mộng với nền quân sự siêu việt nhất thế giới thời đó – đế chế La Mã.

Theo Kienthuc

x