• TINHHOANET

Big Pharma, Big Oil và Big Banks đã “khủng bố” nước Mỹ như thế nào?

Big Pharma (các tập đoàn dược phẩm lớn), Big Oil (các tập đoàn dầu khí lớn) và Big Banks (các định chế tài chính – đầu tư) đã tìm kiếm lợi nhuận bất chấp sự đau khổ của người dân Mỹ, một việc làm có thể so sánh với “khủng bố”. 

Big Pharma, Big Oil và Big Banks đã tìm kiếm lợi nhuận bất chấp sự đau khổ của người dân Mỹ, một việc làm có thể so sánh với “khủng bố”. (Ảnh: t/h)

Trong những năm gần đây, các tổ chức lớn như Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI), Bộ Ngoại giao Mỹ, Bộ An ninh Nội địa (DHS) và Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) đã đề xuất nhiều định nghĩa về chủ nghĩa khủng bố.

Trong đó, một số tiêu chí phổ biến bao gồm: Bạo lực, thương tích, tử vong, đe dọa, mục tiêu, động lực chính trị. Điều bất ngờ là tất cả các tiêu chí được đưa ra về chủ nghĩa khủng bố lại hoàn toàn tương ứng với các công ty dược phẩm và dầu mỏ, theo Humans Are Free.

Chính những công ty này đã gây nên các tổn thương sâu sắc và đe dọa đến công dân Mỹ. Họ đàn khiến mọi người chết dần chết mòn, nhưng họ lại luôn phủ nhận những bằng chứng về hành vi sai trái của mình.

Đặc biệt động cơ chính trị của những tập đoàn lớn đại diện cho ngành công nghiệp Mỹ như: Big Pharma, Big Oil và Big Banks (chứng khoán/đầu tư) đã thể hiện rõ ràng trong các nỗ lực vận động hành lang của họ.

Theo đó có thể khẳng định rằng sự khủng bố mà những tập đoàn này gây ra cho người Mỹ là có thật. Nó đã được ghi lại thông qua hàng loạt sự kiện diễn ra trong thời gian gần đây

Big Pharma: Kiềm chế lời kêu gọi của tổng thống Trump về việc trừng phạt các đại lý bán thuốc gây nghiện

Cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau có chứa chất gây nghiện opioid đang hủy hoại người dân Mỹ. (Ảnh qua Pinterest)

Trong một bài báo được đăng trên tạp chí TIME, một người đàn ông trẻ tên là Chad Colwell nói: “Tôi đã uống thuốc giảm đau theo quy định. Nó bao gồm Percocet và Oxycontin. Và sau đó tôi phải cố gắng dứt mình ra khỏi những loại thuốc này”.

Theo tờ TIME: “Các đơn thuốc đưa ra phương thuốc rẻ hơn, lựa chọn thay thế có hiệu quả mạnh hơn. Vậy tại sao phải mua một viên Percocet giá 50 USD trong khi một tép heroin chỉ có 5 USD?”. Khoảng 75% người nghiện heroin đã sử dụng thuốc theo toa gây nghiện trước khi chuyển sang heroin.

Nhưng lúc này tất cả các câu hỏi được đưa ra về vai trò của Big Pharma trong vấn nạn bạo lực và những ca tử vong ở Mỹ đã được Trung tâm kiểm soát dịch bệnh và tạp chí Y Tế Công Cộng Hoa Kỳ giải đáp theo kiểu biện hộ.

Chính họ để nhấn chìm những ý định chỉ rõ sự đe dọa của Big Pharma đối với công chúng trong những cuộc tranh luận và việc niêm yết giá thuốc quá cao.

Đặc biệt những cáo buộc về mục đích chính trị của Big Pharma đã bị những cuộc vận động hành lang hàng đầu của tập đoàn này loại bỏ.

Trong vấn đề đầu độc công chúng, ông Bernie Sanders lưu ý rằng: “Chúng tôi biết các công ty dược phẩm đã nói dối về tác dụng gây nghiện của thuốc giảm đau opioid mà họ sản xuất”.

Cụ thể hơn, công ty Purdue Pharma biết tất cả các tác dụng gây nghiện tàn khốc của thuốc giảm đau oxycontin. Thậm chí công ty này đã nhận tội vào năm 2007 trong việc đưa ra thông tin sai lệch cho các nhà quản lý, bác sĩ và bệnh nhân về nguy cơ của thuốc.

Hiện tại Purdue và các công ty dược phẩm khác đang phải đối mặt với một vụ kiện liên quan đến việc “tiếp thị thuốc phiện” và bỏ qua các khuyến cáo về tác hại của việc lạm dụng thuốc.

Tuy nhiên, không có một nhà tù nào dành cho những người tạo ra thuốc gây nghiện opioid. Thay vào đó họ chỉ bị phạt tiền, một số tiền rất nhỏ mà các công ty có thể nhanh chóng lấy lại bằng cách tăng giá thuốc vài lần trong năm.

Không dừng lại ở đó, kết quả của cuộc tấn công bạo lực mà Pharma tiến hành đã  khiến cho nhiều người Mỹ phải chịu đựng “cái chết trong tuyệt vọng”. Nó chính là cái chết của ma túy, rượu và tự tử. Tỉ lệ tự tử ở Mỹ đã đạt mức cao nhất trong 30 năm qua.

Big Oil: Đem đến thập kỷ khủng bố

Môi trường bị ô nhiễm do tràn dầu. (Ảnh qua Slavia)

Bất kỳ sự nghi ngờ nào được đưa ra về cuộc khủng hoảng sinh thái do các công ty nhiên liệu hóa thạch gây ra đều bị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ (LAL), Liên Hợp Quốc, Lầu Năm Góc, sự hợp tác của các chính phủ, và những nhóm nghiên cứu độc lập nhấn chìm. Họ lý luận rằng sự biến đổi khí hậu hiện tại là do chính con người gây ra và nó đang giết chết con người.

Nhưng một thực tế không thể phủ nhận là mục đích của ngành công nghiệp dầu mỏ và động cơ chính trị của họ đã được chứng minh thông qua cách mà họ phủ nhận những sự thật đã được công nhận.

Tiêu biểu nhất chính là hành động của công ty Exxon với cuộc nghiên cứu khí hậu riêng trong 40 năm. Tiếp sau đó là những nỗ lực trong cuộc vận động hành lang trị giá hàng triệu đô của hàng loạt các công ty như Amoco, the US Chamber of Commerce, General Motors, Koch Industries và nhiều tập đoàn khác. Mục đích chính là cố gắng tháo bỏ nghị định thư Kyoto chống lại sự nóng lên của toàn cầu.

Big Banks: Để lại những trường hợp chủ nhà tự tử

Tất cả các mối nghi ngờ về vấn nạn bạo lực được bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng thế chấp năm 2008 đã được các cuộc nghiên cứu về “tự tử do suy thoái” giải quyết nhanh chóng. Khi này cả tạp chí Tâm thần học Anh (British Journal of Psychiatry) và Viện Y tế Quốc gia (NIH) đều tìm thấy các mối liên kết rõ ràng giữa sự suy thoái và tỷ lệ tự tử.

Và cũng tương tự như Big Pharma và Big Oil, Big Banks đã chủ động tiến hành các cuộc vận động hành lang với động cơ chính trị được thể hiện rõ ràng. Thời điểm này các ngân hàng đã ngụy trang lớp vỏ vì lợi ích của mọi người để yêu cầu bãi bỏ những quy định có thể dẫn đến các mối đe dọa tương tự cho chủ nhà Mỹ trong năm 2008.

Nhưng người làm cho tất cả mọi thứ trở nên tồi tệ hơn chính là các nhà phát triển tư nhân, những người đã kiếm được nhiều lợi nhuận nhất bằng cách xây dựng các ngôi nhà đẹp cho người giàu có. Thêm vào đó, họ luôn tránh tạo ra các căn nhà có giá cả phải chăng.

Và cũng kể từ khi cuộc suy thoái diễn ra, công ty Blackstone và nhiều công ty cổ phần tư nhân khác đã tiến hành thu mua những căn nhà bị tịch thu. Sau đó, họ đã giữ chúng lại cho đến khi giá nhà được nâng cao.

Giải pháp tạm thời được các đơn vị lựa chọn khi này chính là cho thuê những căn nhà với giá cắt cổ.

Theo đó, một hộ gia đình ở Hoa Kỳ phải kiếm được 21,21 USD/giờ thì họ mới mua được căn hộ có 2 phòng ngủ theo tiêu chuẩn của HUD. Số tiền này thật sự nhiều hơn so với thu nhập thật sự mà họ kiếm được là 16,38 USD/giờ.

Kể từ khi cuộc suy thoái bắt đầu, tình hình liên tục diễn biến xấu đi. Tính từ năm 2010 – 2016, số lượng nhà ở cho các gia đình có thu nhập thấp giảm mạnh 60%.

Điều này đã vẽ ra bức tranh lớn mà chúng ta cần phải nhìn nhận rằng: Từ những năm 1980 đã có sự phân phối lại tài sản khổng lồ từ nhà ở của tầng lớp trung lưu đến danh mục đầu tư của những người có giá trị tài sản ròng trung bình 75 triệu USD. Nó đã lý giải được cái chết của tuyệt vọng. Một cái chết dành cho những người bị mất đi nhà cửa của mình do sự khủng bố của các tập đoàn công nghiệp ở Mỹ.

>>> Vì sao Giang Trạch Dân sẵn sàng đánh đổi mọi thứ khi bị khởi tố tại Mỹ?

>>> Con đường thống trị ngành y tế, tài chính và nông nghiệp của gia tộc Rockefeller

>>> Phóng sự Hàn Quốc: Giết người để sống

Tú Văn, theo HAF

x