• TINHHOANET

7 chất bổ sung tự nhiên giúp bạn giảm bớt triệu chứng viêm mãn tính

Chứng viêm là một chuỗi bình thường, tự nhiên và phức tạp của hoạt động phản ứng của cơ thể khi bị tác động vật lý, hóa học hoặc sinh học gây ra chấn thương hoặc kích thích.

Một sự bảo vệ chống lại các gốc tự do là chất chống oxy hóa, một lớp của các chất có thể trung hòa các gốc tự do trước khi chúng có thể gây ra tổn thương mô thông thường. (Ảnh Epoch Times)

Các phản ứng viêm như nóng sốt, đau, đỏ và sưng, là một cơ chế bảo vệ đáng mong muốn. Các phản ứng viêm thường có một công-tắc bật/tắt. Khi các chấn thương cấp tính hoặc kích thích bất thường được kiểm soát, khóa được đặt trong trạng thái tắt. Trong viêm mãn tính, như viêm khớp, viêm da, viêm tuyến giáp, bệnh vẩy nến và nhiều bệnh mãn tính khác lại là chứng bệnh xuất hiện khi công tắc này gặp vấn đề.

Viêm cấp tính ngăn chặn sự lây lan của tác nhân gây tổn hại, loại bỏ mảnh vỡ tế bào và tạo nền tảng cho việc phục hồi mô về trạng thái ban đầu của cơ thể. Viêm mãn tính thường dẫn đến sự phá hủy mô (ví dụ như viêm khớp dạng thấp, viêm phế quản mãn tính) và hiện là yếu tố quan trọng nhất trong việc gây ra bệnh tim, tiểu đường loại II, béo phì, ung thư, hội chứng suy nhược mãn tính, các bệnh thoái hóa thần kinh, mất trí nhớ và bệnh Alzheimer, cũng như tất cả các bệnh tự miễn dịch.

Chứng viêm có thể được gây ra bởi chế độ ăn uống hoặc việc lựa chọn thực phẩm không thích hợp, sự căng thẳng, hóa chất nhân tạo trong không khí, nước, mỹ phẩm và các loại thuốc, các mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm. Thuốc theo toa luôn là giải pháp thông thường được sử dụng để khắc phục căn bệnh này. Về ngắn hạn, các loại thuốc steroid và phi steroid chống viêm (NSAID) có thể rất hiệu quả, nhưng khi sử dụng lâu dài (vượt quá một vài tuần), nó có thể đe dọa cuộc sống với những tác dụng phụ (xuất huyết, loãng xương, bệnh tim và tử vong sớm).

Trên mức độ phân tử, việc tổn thương mô được gây ra do viêm là kết quả của các gốc tự do

Trên một mức độ phân tử, tổn thương mô do viêm là kết quả của việc các gốc tự do, nguyên tử hay phân tử không bền sở hữu electron cao năng chưa ghép cặp, chúng chực chờ để cướp các electron từ phân tử bền vững hơn. Các gốc tự do này đến từ tác hại của thuốc trừ sâu, thực phẩm cháy khét, thực phẩm chiên, thực phẩm ôi thiu, thực phẩm chiếu xạ, thực phẩm bị nhiễm khuẩn, axit béo trans, dầu hydro hóa, hàng nghìn chất hóa học và chất bảo quản được hít hoặc thẩm thấu qua da.

Tác nhân bảo vệ chống lại các gốc tự do là chất chống oxy hóa, có khả năng trung hòa tác nhân gây hại trước khi chúng có thể gây ra tổn thương mô thông thường. Chúng ngăn ngừa việc tổn thương đến DNA của chúng ta. Chất chống oxy hóa có thể được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm, đặc biệt là các loại trái cây và rau củ nhiều màu sắc. Đó là những cái tên như lycopene, beta-carotene và vitamin A, C, E, và bioflavonoid.

Cuốn sách của Julie Daniluk mang tên “Những bữa ăn chữa lành chứng viêm”, là một trong những cuốn sách hay nhất có thể mua để giúp bạn nhận biết các loại thực phẩm tốt nhất cho những người mắc chứng viêm, đồng thời đưa ra những gợi ý thiết thực về bữa ăn.

Chất chống oxy hóa có thể được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm, đặc biệt là các loại trái cây và rau nhiều màu sắc.

7 bổ sung chất kháng viêm

Mọi chất chống oxy hóa là chất chống viêm và mọi chất chống viêm là chất chống oxy hóa. Một phương thức chống viêm tốt được liệt kê dưới đây. Mức độ nghiêm trọng của tình trạng viêm có liên quan quyết định số lượng và liều lượng cho tất cả những chất bổ sung này.

  • Nhiều loại vitamin và khoáng chất, đây sẽ là mức tối thiểu để cung cấp chất chống oxy hóa; tránh chứa nhiều sắt bởi vì quá nhiều sắt có thể gây viêm.
  • Phức hệ vitamin B, rất cần thiết, có rất nhiều tác dụng có lợi để kháng các loại viêm nhiễm, đặc biệt là bệnh tim.
  • Phức hệ vitamin A, C, D, K và E, tất cả được chứng minh có hoạt tính chống viêm trong tất cả các tình trạng viêm. Sự thiếu hụt làm cho tình trạng viêm nặng hơn.
  • Chất Coenzyme Q10 (ubiquinone), một chất chống oxy hóa mạnh có tác dụng đặc biệt hữu ích cho tất cả các vấn đề về tim mạch bao gồm huyết áp cao. Chất CoQ10 là một sự cần thiết cho bất cứ ai dùng thuốc trợ tim vì hầu hết loại thuốc này phá hủy chính sự tạo thành CoQ10 của cơ thể. CoQ10 có tác dụng chống ung thư, và là liệu pháp điều trị hiệu quả chứng bệnh Parkinson.
  • Chất Serrapeptase, một enzyme có nguồn gốc từ con tằm dường như là một trong những enzyme chống viêm có hiệu nghiệm và hiệu quả nhất trong tất cả các enzyme. Với liều lượng đủ cao, serrapeptase có khả năng phân hủy các mảng xơ vữa động mạch. Nó cũng có thể phân hủy một màng bảo vệ tế bào ung thư do đó làm cho hầu như mọi phương thuốc hóa học trị liệu hiệu quả hơn.
  • Curcumin, chiết xuất từ củ nghệ là một chất chống viêm tự nhiên hiệu nghiệm được so sánh có hiệu quả như một chất chống viêm corticosteroid theo toa. Nghiên cứu cũng cho thấy chất curcumin có thể là một chất chống ung thư tự nhiên hiệu quả.
  • Axit béo Omega-3 (phần nhỏ DHA và EPA ), từ dầu cá rất hiệu quả trong việc ức chế cytokine gây viêm mà không có tác dụng phụ. Lý tưởng nhất là axit béo omega-3 hoạt động tốt nhất với liều lượng cao vitamin D. EPA đóng vai trò như một chất nền cho các enzyme gọi là cyclooxygenase và lipoxygenase. Nó đua tranh với axit arachadonic (gây viêm) cho các enzym này. Việc bổ sung các axit béo omega-3 như thế làm giảm chứng viêm bởi vì các chất dẫn xuất axit arachadonic (prostaglandin, thromboxane và leukotrienes) ít hoạt động hơn. Sự hiệu nghiệm của các loại dầu cá này xấp xỉ NSAIDS (thuốc phi steroid chống viêm) có tác dụng phụ không đáng kể.

Nếu bạn muốn bắt đầu một chương trình chống viêm với sự thay đổi và bổ sung chế độ ăn uống, bạn nên gặp chuyên viên chăm sóc sức khỏe bằng liệu pháp tự nhiên để họ có thể lên giúp bạn một kế hoạch tốt cho bữa ăn và sức khỏe.

Cindy, dịch từ Epoch Times

x