• TINHHOANET

Chuyên gia chỉ ra bài học lịch sử cho việc tái mở cửa và khôi phục kinh tế hiện nay

Khi các quốc gia dần dần tiến tới việc tái mở cửa nền kinh tế của mình, tốc độ và sự thành công trong việc phục hồi kinh tế sẽ phụ thuộc vào các chính sách được thực hiện nhằm đảo ngược sự gián đoạn trong kinh doanh và thị trường lao động.

Ở đỉnh cao của cuộc Đại suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 25%. (Ảnh: Bettmann / Getty Images)

Các nhà kinh tế tin rằng đại dịch Vũ Hán (Covid-19) đã tạo ra sự suy thoái tồi tệ nhất kể từ Đại suy thoái (1929-1930). Các biện pháp phong tỏa chặt chẽ để ngăn chặn sự lây lan của virus Vũ Hán khiến cho các hoạt động kinh tế và việc làm trên toàn thế giới sụt giảm nghiêm trọng.

Báo cáo của Liên Hợp Quốc (LHQ) dự đoán rằng đại dịch virus ĐCSTQ sẽ gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu và gần một nửa lực lượng lao động toàn cầu sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp.

Nhiều người dân ở Hoa Kỳ đã bắt đầu lo lắng rằng sự tàn phá kinh tế do lệnh phong tỏa sẽ gây ra nhiều tác hại hơn cả virus.

Trong những tuần gần đây, một lượng lớn các công xưởng sản xuất trên khắp Hoa Kỳ đã đóng cửa hẳn, theo báo cáo của Wall Street Journal, sự gia tăng tình trạng mất việc sẽ không chỉ là tạm thời. Ngoài ra, có nhiều người nghi ngờ về việc nền kinh tế Hoa Kỳ có thể chứng kiến ​​sự phục hồi hình chữ V, vì thiệt hại vĩnh viễn ở công ty tư nhân có thể phải mất nhiều năm mới có thể hồi phục.

Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 14,7% vào tháng 4/2020 với hơn 20 triệu người mất việc trong thời gian hoạt động sản xuất kinh tế ngừng hoạt động. Goldman Sachs cảnh báo rằng tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng vọt lên đến 25% trong năm nay, có thể cạnh tranh với nạn thất nghiệp trong những năm của cuộc Đại khủng hoảng.

“Cuộc Đại suy thoái kéo dài khoảng 10 năm là hậu quả của một loạt các lỗi chính sách,” Amity Shlaes, nhà sử học kinh tế và tác giả của cuốn sách The Forgotten Man: A New History of the Great Depression (Người đàn ông bị lãng quên: Một lịch sử mới về cuộc đại khủng hoảng) nói.

Nếu lịch sử nắm giữ bài học phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng hiện tại, thì đó chắc chắn là chính phủ “không nhúng tay quá sâu vào kinh doanh và để các doanh nghiệp làm việc của họ,” bà Amity nói tại một hội nghị ảo do Quỹ Di sản tổ chức ngày 11/5.

Tiến đến sự vĩ đại

Tổng thống Donald Trump tuyên bố sẽ tiến đến sự vĩ đại trong bối cảnh các bang trên khắp Hoa Kỳ bắt đầu nới lỏng phong tỏa.

“Đất nước sẽ tiến sang sự vĩ đại vì chúng ta sẽ làm điều gì đó rất nhanh. Nhiều yêu cầu đã bị dồn nén, và năm tới, chúng ta sẽ có một năm phi thường,” ông Trump nói trong cuộc họp với các nhà lập pháp Cộng hòa tại Nhà Trắng ngày 8/5. 

Chính phủ Hoa Kỳ đã chi 2,5 nghìn tỷ USD để ứng phó với đại dịch và trong gói cứu trợ tiếp theo, ông Trump yêu cầu giảm thuế bổ sung như cắt giảm thuế lương để khuyến khích các công ty tạo việc làm.

“Nếu bạn nhìn vào năm 1928, 1929, điều đầu tiên họ làm là tăng thuế. Và sau đó họ tăng lãi suất, và họ bóp cổ mọi người đến chết. Và phải mất 15 năm để phục hồi lại nhiều hơn thế. Chúng ta đang thực hiện đúng cách. Chúng ta có rất nhiều sinh viên tài chính tuyệt vời. Tôi là một trong số họ,” lãnh đạo Nhà Trắng tuyên bố.

Đảng Dân chủ Hạ viện ngày 12/5 đã công bố kế hoạch cứu trợ trị giá 3 nghìn tỷ USD cho các cá nhân, tổ chức bị virus Vũ Hán gây ảnh hưởng, tăng gần gấp đôi tài trợ của liên bang đối với cuộc khủng hoảng.

Các đảng viên Dân chủ hàng đầu đã nói rằng kế hoạch cứu trợ của họ sẽ phản ánh Thỏa thuận mới của cố Tổng thống Franklin D. Roosevelt vào những năm 1930, đã ứng phó thành công cuộc Đại khủng hoảng với những cải cách sâu rộng.

Các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa và các quan chức Nhà Trắng ám chỉ rằng họ sẽ từ từ lấy lại mọi thứ.

Tại một sự kiện webcast của Viện Brookings vào ngày 12/5, Cố vấn kinh tế Nhà Trắng Kevin Hassett cho biết họ sẽ đánh giá tác động của các nền kinh tế bang tái mở cửa và hoạt động kinh tế nhanh chóng như thế nào trước khi quyết định giai đoạn tài trợ tiếp theo.

Lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện Chuck Schumer đã lên tiếng chỉ trích Đảng Cộng hòa đã lặp lại sai lầm của cố Tổng thống Herbert Hoover bằng cách để công ty tư nhân dẫn đầu việc khôi phục kinh tế.

“Cuộc đại suy thoái bắt đầu khi thị trường chứng khoán sụp đổ, nhưng Tổng thống đảng Cộng hòa lúc đó là Herbert Hoover đã nói: Chúng ta không phải làm bất cứ điều gì. Hãy để công ty tư nhân giải quyết vấn đề này,” ông Schumer phát biểu trong trên chương trình The Joe Madison Show vào ngày 12/5.

Bài học từ lịch sử

Nhà sử học kinh tế Amity Shlaes. (Ảnh qua Flickr)

Cuộc đại khủng hoảng đã gây ra một sự thay đổi chính trị lớn ở Hoa Kỳ. Ông Hoover, Tổng thống thứ 31 của Hoa Kỳ bị chỉ trích vì vẫn chưa làm đủ để chấm dứt khủng hoảng. Vì vậy, ông đã thất bại trong cuộc bầu cử năm 1932 và để cho Franklin Delano Roosevelt thắng cử.

Nhưng trái với những gì được viết trong sách giáo khoa ở trường, Tổng thống Hoover không phải là người đề xuất nền kinh tế thị trường tự do, Shlaes cho biết.

Bằng chứng cho thấy cố Tổng thống Hoover đã gây ra nhiều thiệt hại vì ông vốn không phải là “một nhà tiếp thị tự do,” bà nói.

Có hai lĩnh vực mà Tổng thống Hoover đã can thiệp tiêu cực tại thời điểm đó. Đầu tiên, ông chỉ trích doanh nghiệp dữ dội đến nỗi họ đâm ra sợ kinh doanh. Kế đó, ông lại đồng ý với giả thuyết tiền lương cao hơn là yếu tố quan trọng nhất để phục hồi kinh tế, theo Shlaes.

Từ đó, các doanh nghiệp đã phải sa thải nhiều nhân viên để giữ mức lương cao hơn; khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt trong cuộc khủng hoảng.

Tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới 28,3% vào tháng 3/1933 và nó vẫn ở mức hai con số trong gần một thập kỷ, Shlaes cho biết.

“Đó là lỗi mà chúng ta đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong những năm 1930. Đó không chỉ là Herbert Hoover. Khi Tổng thống Roosevelt điều hành đất nước, ông đã tạo ra một đạo luật thúc đẩy mức lương tối thiểu ở mọi nơi.”

Do đó, tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với dự tính đã xảy ra. Bạn đã nghe thấy cụm từ Đại suy thoái, thật tốt khi bạn bạn biết về nó. Đó chính xác là những gì xảy ra vào những năm 1930.”

Các nhà phê bình cho rằng thỏa thuận bên lề mới của Franklin Delano Roosevelt (FDR) là chống lại doanh nghiệp và nó không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và tạo việc làm. Thỏa thuận mới cũng bị chỉ trích vì cho phép các công ty lớn định ra các quy tắc khiến các doanh nghiệp nhỏ phải đóng cửa.

Theo David Pietrusza, nhà sử học chính trị, tác giả và chuyên gia về lịch sử bầu cử tổng thống, các chương trình xã hội của FDR đã phải trả giá khiến việc phục hồi kinh tế bị trì trệ.

Chuyên gia Pietrusza tin rằng quyết định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ lúc đó đã đảo ngược một số phần chủ chốt trong chương trình FDR, giúp thúc đẩy một chút phục hồi dẫn đến cuộc tái ứng cử năm 1936 Tổng thống Roosevelt và giúp ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.

Theo các nhà sử học, thập kỷ phù hợp nhất cho bài học về sự phục hồi kinh tế hiện nay sẽ là những năm 1920 thay vì những năm 1930. Vào những năm 1920, trong các nhiệm kỳ của Tổng thống Harding và Coolidge, nền kinh tế đã phục hồi nhanh chóng sau thời kỳ suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp vẫn luôn được giữ ở mức thấp.

Đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, kèm theo cuộc suy thoái sau Thế chiến I, là một cơn bão hoàn hảo,” ông Pietrusza nói.
Nền kinh tế đã phát triển rất nhanh sau đó, một phần là vì chính phủ đã nhường đường; Chính phủ đã không can thiệp nhiều vào các hoạt động kinh doanh”.

Thiện Thành (Theo The Epoch Times)

x